Phụng Vụ - Mục Vụ
Linh đạo hôn phối: Trưởng thành của tình yêu
AC Nguyễn Long Hằng
14:31 21/06/2014
LINH ĐẠO HÔN PHỐI THEO THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ
LTS- « LINH ĐẠO HÔN PHỐI THEO THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II » là tác phẩm thứ 32 mà Ban Tu Thư Giáo Xứ Việt Nam Paris vừa soạn để « Kỷ niệm ngày Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được tuyên phong Hiển Thánh, 27.04.2014 » và để « Kỷ niệm 20 năm sinh hoạt của Ban Mục Vụ Gia Đình, 1995-2015 ». Chúng tôi xin được hân hạnh giới thiệu tác phẩm này với quí độc giả.
Xin Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban phúc lành cho những người góp phần thực hiện tác phẩm này, cũng như cho quí độc giả thân thương. Tất cả để vinh danh Thiên Chúa và thánh hóa các gia đình.
Bài được phổ biến :
1. LỜI MỞ, ngày 17.04.2014
2. Thần học Thân xác và Linh đạo Hôn phối của Lm Mai Đức Vinh, ngày 24.04.2014
3. Hôn nhân trong ánh sáng Hôn lễ của Đức Kytô và Giáo Hội, của Lm Mai Đức Vinh, ngày 01.05.2014
4. Duyên lành và thánh thiện của cặp vợ chồng của Ptvv Phạm Bá Nha, ngày 08.05.2014.
5. Để Hôn nhân trở nên một ơn gọi của C. Micheline Kim Chi, ngày 15.05.2014.
6. Hạnh phúc hôn nhân của AC Phạm Hòa Hiệp, ngày 22.05.2014
7. Làm sao để vợ chồng sống hạnh phúc của ÔB Phan Hữu Lộc, ngày 05.06.2014
8. Hôm nay, ngày 12.06.2014, xin giới thiệu bài 8 «Trưởng thành của tình yêu » do AC Nguyễn Long Hằng
TRƯỞNG THÀNH CỦA TÌNH YÊU
Yếu tố căn bản của linh đạo hôn nhân chính là tình yêu đong đầy trong trái tim của hai người phối ngẫu như quà tặng của Chúa Thánh Linh. Đôi tân hôn đón nhận ân huệ này qua bí tích hôn phối như một ân huệ đặc biệt. (Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 trong buổi triều kiến ngày 14.11.1984)
1. Đêm tối của cảm xúc
Các tác giả nổi tiếng của những bài viết về vấn đề thiêng liêng đều công nhận rằng, đời sống thiêng liêng thường gặp đó đây nhiều thử thách, tựa như những giai đoạn tăng trưởng cho đời sống thiêng liêng. Đó là đêm tối của cảm xúc, lúc mà linh hồn không còn hứng thú cầu nguyện, lúc mà đời sống tâm linh hình như đã mất đi mọi thú vị và hấp dẫn, đó là những đêm đen của linh hồn, là những kinh nghiệm đau đớn trong tăm tối của đức tin. Thánh Gioan Thánh Giá đã diễn tả cho chúng ta biết nhiều về tình trạng này. Nhưng gần đây nhất, đêm tối của Đức Tin mà mẹ thánh Têrêsa thành Calcutta đã trải qua càng làm cho chúng ta xúc động hơn nữa. Chính mẹ đã viết những lời này: "Người ta thường nói rằng, những kẻ sa vào hỏa ngục phải chịu khốn khổ đời đời chỉ vì đánh mất Thiên Chúa. Nhưng nếu họ còn có một chút cỏn con hy vọng là sẽ có được Thiên Chúa, thì chắc họ sẽ vượt qua được những khốn khổ đó. Nhưng trong hồn tôi, tôi cũng cảm thấy chính cái khốn khổ đánh mất Thiên Chúa đó, một Thiên Chúa không thương tôi nữa, một Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa, một Thiên Chúa thật ra không hiện hữu... Những bóng tối này bao phủ tôi tứ bề, tôi không thể vươn lên tới Thiên Chúa, không còn ánh sáng, không còn ơn soi sáng nào chiếu vào hồn tôi. Tôi nói về tình yêu của các linh hồn, về tình yêu dịu dàng dành cho Thiên Chúa - lời nói vừa ra khỏi miệng tôi thì tôi lại thất vọng vì tin vào đó... Thiên đàng, cả một sự trống rỗng! Không có một tư tưởng nào về thiên quốc lọt vào tâm trí tôi, bởi vì không còn hy vọng nữa" (Thư gởi cha Picachy, ngày 03.09.1959). Nhưng dầu vậy, mẹ thánh vẫn không ngừng yêu Chúa.
Thế thì tại sao đời sống phối ngẫu lại được miễn trừ những thử thách ấy nhỉ, những thử thách sẽ thanh luyện đôi vợ chồng và giúp cho tình yêu của họ đạt đến mức trưởng thành, hoàn hảo. Ơn gọi đời sống hôn nhân là con đường nên thánh đích thực, là một trong hai ơn gọi của đời sống Kitô hữu để cho đi chính mình, bên cạnh đời sống độc thân và trong sạch. (Tông huấn Familiaris Consortio, số 11), và như thế, đời sống hôn nhân là một con đường dẫn tới sự trọn hảo của tình yêu Thiên Chúa, thế thì làm sao con đường này không có những khó khăn và thử thách, như đời sống tu trì, tuy rằng dưới những hình thức khác nhau. Nếu không như vậy thì thật là bất bình thường. Và nếu một đời sống hôn nhân mà không gặp những thử thách như thế, thì có thể là đời sống hôn nhân ấy chỉ tà tà ở mức độ tầm thường.
Đêm tối của cảm xúc ít khi xảy đến vào những ngày tháng đầu của cuộc sống lứa đôi, lúc mà tình cảm của cả hai đang dạt dào, đang say mê đắm đuối. Chỉ khi một vài năm tháng đã trôi qua thì lúc đó người ta mới cảm thấy đêm tối của cảm xúc xuất hiện: "Họ không cảm thấy yêu người phối ngẫu nữa vì sự mãnh liệt của tình yêu đã dịu lắng lần". Chẳng có gì bất thường cả, ngay cả trên bình diện tâm lý. Những khám phá mới đây về lãnh vực tình dục cho thấy rằng những xúc cảm của tình yêu là kết quả của một hiện tượng phức tạp, đến từ nhiều lý do khác nhau, nhưng hiện tượng này sẽ biến mất dần, trung bình là sau chừng 36 tháng. Bởi đó người ta không thể ở trong tình trạng si mê đắm đuối vì yêu suốt đời được. Thế thì có cần phải lo lắng không? Nhiều người có thể sẽ rơi vào sự nhầm lẫn giữa tình yêu và cảm xúc yêu thương: "Tôi không cảm thấy là tôi yêu em (yêu anh) nữa. Bởi thế, chắc là tôi không yêu em (yêu anh) nữa!". Cần phải phân biệt một cách chín chắn ở đây. Thường thì tình trạng nhạt nhẽo này là kết quả của sự lười biếng trong tình yêu. Người ta mãi lo làm lụng, mãi lo chăm sóc con cái, lo cho mọi bận rộn ngày thường và cuối cùng thì người ta quên dành thời gian cho cuộc sống lứa đôi. Thế thì có cần cố gắng hết sức để làm sống lại những đắm đuối yêu thương, những si mê của những ngày đầu tiên không? Không có gì cấm cản cả nếu tình trạng này là kết quả của những sơ sót và lạnh nhạt đối với nhau. Trong trường hợp này, chỉnh đốn lại là điều cần làm, và nên làm.
Nhưng nếu đã cố gắng chỉnh đốn lại mà tình trạng này vẫn tiếp tục thì làm sao nhỉ? Có lẽ đã đến lúc cần phải tinh luyện tình yêu, trải qua một vài thử thách để cho tình yêu được trưởng thành, cũng là lúc khám phá ra sự thật là hành động yêu thương không chỉ là cảm thấy mình yêu thương. Trong "Tình yêu và trách nhiệm", đức Gioan Phaolô 2 đã phân tích và chứng minh rằng cảm xúc yêu thương chưa phải là trạng thái hoàn hảo của tình yêu. Trong cảm xúc yêu thương, khi chỉ tìm kiếm cảm xúc, có thể chính là một sự tìm kiếm chính mình trong đó. Tình yêu như thế, có nghĩa là người ta chỉ tìm kiếm sự thỏa mãn trong cảm xúc có được nhờ đối tượng yêu thương. Và có thể là, thật ra người ta đang yêu chính mình trong lúc yêu thương đắm đuối với người phối ngẫu. Những đắm đuối yêu thương này không có gì là xấu xa cả, miễn là chúng phải được gói trọn vào trong những thái độ cao cả hơn của tình yêu. Nếu người ta chỉ ở lại trong tình trạng này, thì có lẽ người ta chỉ nằm lại trong trạng thái ấu trĩ của tình yêu. Cần phải khám phá ra rằng cảm thấy mình yêu đắm đuối cũng chưa chắc là hành động yêu thương thật sự, đúng nghĩa của tình yêu. Bởi vì khi ấy, cảm xúc yêu thương còn nằm trên bình diện của sự nhạy cảm và của tình cảm: đối tượng yêu còn được tìm kiếm khi nào nó còn bù đắp được những gì thiếu thốn trong tôi. Vì thế, dĩ nhiên là kẻ đang yêu trở nên ích kỷ và không thể mở lòng ra với những gì cao quý hơn.
Thế thì khi nào người ta mới yêu thương thật sự? Khi người ta tìm kiếm trước hết là hạnh phúc của đối tượng yêu, nghĩa là khi người ta quên mình đi vì kẻ khác. Tình yêu khi đó trở nên thứ tình yêu vị tha. Người ta ước muốn cho đối tượng yêu được hạnh phúc mà không màng đến mình. Tình yêu vị tha vượt lên trên cái gọi là cảm xúc để ngự trị ở trình độ ý chí. Trong trường hợp này, tình yêu mới thực sự là tình yêu của con người, vì lúc ấy nó phải vận dụng khả năng đặc biệt mà chỉ con người mới có, đó là muốn điều tốt bởi vì việc đó tốt. Tình yêu say đắm nằm trên bình diện cảm xúc, còn tình yêu vị tha nằm trên bình diện của ý muốn. Trước hết là muốn điều tốt cho người mình yêu, tình yêu vị tha có thể dẫn đến việc hy sinh đi chính ý muốn của mình để thực hiện ý muốn của người yêu và tìm thấy niềm vui ở đó. Trong một khía cạnh nào đó, tình yêu vị tha là luôn luôn nói với người mình yêu rằng: "không theo ý tôi, nhưng theo ý anh (ý em)", và trong ý hướng này, nó mang một ý nghĩa hy sinh, quên mình. Khi hai người có một liên hệ với nhau trong trạng thái muốn điều tốt cho nhau, thì khi đó giữa họ nảy sinh ra một thứ tình cảm được gọi là tình bạn thân thiết. Bản chất của tình bạn thân là muốn điều tốt cho bạn, trước khi muốn cho bản thân mình. Và đôi vợ chồng được mời gọi sống tình bạn thân thiết này trong cuộc sống hôn nhân. Tình yêu vị tha không cản trở những cảm xúc đắm đuối yêu thương, lôi kéo hai người đến gần nhau. Trái lại, nó sẽ xác định, bao gồm và sắp đặt thứ tự để bảo đảm cho tình yêu vị tha này có được một viễn ảnh bền vững hơn. Thêm vào đó, khi tình yêu có tính chất hướng về người khác, chính là bước đầu tiên giúp cho tình yêu được trưởng thành. Nhưng tình yêu vị tha có phải là tột đỉnh của tình yêu vợ chồng không? Chắc chắn là không, vì tột đỉnh của tình yêu nằm trong sự cho đi chính bản thân mình. Đức Gioan Phaolô 2 gọi đó là tình yêu phu phụ. (ngài dùng chữ sponsal, gốc từ chữ latinh sponsus=chồng hay sponsa=vợ). Ngài định nghĩa tình yêu vợ chồng như sau: "Tình yêu vợ chồng khác hẳn mọi thứ tình yêu khác. Nó bao gồm việc cho đi chính bản thân mình. Tất cả mọi hy sinh, cố gắng để muốn điều tốt cho kẻ khác không đi xa bằng tình yêu vợ chồng. Cho đi chính bản thân mình chắc chắn là vượt cao hơn việc muốn điều tốt cho người khác, ngay cả trong khi muốn điều tốt cho kẻ khác, kẻ khác đó trở nên chính mình như trong tình bạn thân. Tình yêu vợ chồng, tình yêu phu phụ chính là thứ tình yêu tuyệt đỉnh mà đôi tân hôn được mời gọi, và với tình yêu này mà chính họ đã long trọng tuyên hứa với nhau - có khi không thật sự ý thức - qua lời này tuyên hứa kết hôn: "Anh (em) trao thân cho em (anh)". Mặc dầu câu tuyên hứa này chỉ có trong công thức thứ ba của nghi thức hôn phối, nó cũng được hiểu ngầm trong hai công thức khác. Trong tình yêu vợ chồng, đôi tân hôn đạt tới đích điểm của ơn gọi làm người của mình, vì đặc điểm của con người chính là tự cho đi chính bản thân mình. Công Đồng Vatican 2 đã khẳng định trong thông điệp Gaudium et Spes: "Con người là tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên cho chính mình. Họ chỉ có thể gặp lại bản thân mình nhờ chân thành cho đi chính bản thân mình" (Gaudium et Spes 24). Vì là con người, nên chỉ người khi biết trao tặng chính bản thân mình một cách hoàn toàn, không điều kiện và không giới hạn. Vì thế, trong hôn nhân, đôi tân hôn được mời gọi để trao tặng chính bản thân mình cho người phối ngẫu, cũng như những linh mục tu sĩ được mời gọi trao tặng chính bản thân mình cho Thiên Chúa. Trong mọi đời sống, để sống trọn ơn gọi làm người, đời sống đó phải biết cho đi, trong đời sống gia đình hay đời sống thánh hiến.
Nóng bỏng với những tình cảm dạt dào của thời gian đầu gặp gỡ, đôi tân hôn không nhận thức được rằng mình được mời gọi sống đời tận hiến cho người mình yêu. Cho đến khi những cảm xúc ấy lặng dần, đó là lúc đôi tân hôn phải nhận thức được ý nghĩa sâu thẳm của việc lãnh nhận bí tích hôn phối. Đêm tối của cảm xúc chắc chắn là một dịp may để thăng tiến tình yêu đến mức trưởng thành. Nó có thể là một lời mời gọi vượt qua, từ tình yêu thiên về cảm xúc tiến đến một tình quên mình, để từ đó họ thực hiện ơn gọi làm người của mình. Sẽ có những lúc say mê, những lúc đắm đuối, cũng tốt thôi. Nhưng họ sẽ không còn nghĩ rằng yêu nhau chỉ là cảm thấy yêu. Họ sẽ khám phá ra rằng yêu thương thật sự chính là trao tặng chính bản thân mình mà không cần đền đáp, không cần điều kiện, một cách nhưng không.
2. Đêm tối của lý trí
Nếu tình yêu phu phụ có thể thanh luyện và truởng thành trong đêm tối của cảm xúc, đôi khi đôi tân hôn cũng được mời gọi để trải qua một hình thức triệt để và đôi khi đau đớn hơn của sự thanh luyện. Có thể người ta sẽ không những không cảm thấy mình yêu, mà còn không biết là mình yêu. Không hiểu tại sao mình lấy nhau, lấy nhau để làm gì, tại sao lại lấy người này, người kia, có thể lầm lẫn vì đã lấy nhau, lầm lẫn trong ơn gọi, nghi ngờ phép cưới không thành v.v... Đêm tối này nằm trong lãnh vực của lý trí, của suy nghĩ chứ không còn nằm trong lãnh vực cảm xúc hay tình cảm. Đó là thử thách tối cao của tình yêu, mà lần này tình yêu chỉ tồn tại được là nhờ ý chí của người phối ngẫu đối với lời hứa trung thành. Đây là một thử thách không diễn tả được, một thử thách sống còn, một cuộc chiến thiêng liêng cần đến vũ khí là lời cầu nguyện. Đức Gioan Phaolô 2 đã nhấn mạnh điều này trong buổi triều kiến chung ngày 27.6.1984, khi ngài giảng giải đoạn kinh thánh nói về việc thành hôn của Tobie và Sara. Vì Sara bị chúc dữ, nên hôn sự của họ được so sánh bằng trận chiến sống còn và đôi tân hôn bị lôi cuốn vào trận chiến của sự lành và sự dữ. Thế thì làm sao họ chiến thắng được sự dữ ? Nhờ lời cầu nguyện mà Tobie mời gọi Sara trong đêm tân hôn, cả hai đã tuyên bố đặt Thiên Chúa vào giữa hôn sự của họ, qua đó họ mặc lấy sức mạnh của chính Ngài. Trong đêm tối của lý trí, đôi vợ chồng phải nhận thức rõ ràng về ý nghĩa và tầm quan trọng của những lời mà họ đã tuyên bố khi trao thân gởi phận cho nhau: "Để yêu em (anh) trong vui mừng cũng như khi bị thử thách, trong hạnh phúc cũng như lúc gian nan". Để yêu em một cách trung thành, cho dù anh không biết em có yêu anh không, cho dù anh không hiểu gì nữa về cuộc sống hôn nhân của chúng mình, cho dù anh không còn chút cảm xúc nào, cho dù anh trách móc em vì em không hiểu anh, cho dù anh tự trách anh vì đã không hiểu em... Trung thành đến cùng, không điều kiện, cho dù tất cả chung quanh ta thúc đẩy ta nuốt lời đã hứa. Trung thành không phải vì con cái, vì sợ người ta nói, vì thể diện gia đình, vì nề nếp xã hội, nhưng bởi vì đã cho đi chính bản thân mình, cho đi mà không lấy lại, cho đi mãi mãi. Chính đó là sự thanh lọc cuối cùng. Chính đó là lúc mà hôn nhân trở nên mong manh và chỉ còn tồn tại được là nhờ vào ý chí, muốn tiếp tục cho đi trong khi trí khôn lại bảo rằng không còn lý do nào để tiếp tục cho đi. Đó cũng là lúc mà ma quỷ tăng cường nỗ lực để đánh lạc hướng của đôi vợ chồng về sự trao thân gởi phận mà họ đã thề hứa. Cũng giống như cô Marthe Robin tâm sự rằng, ma quỷ đã thôi thúc cô rằng "Có ích gì nhỉ?" khi mỗi tuần cô được diễm phúc sống lại cuộc khổ nạn của Đức Kitô, thì đôi vợ chồng, trong đêm tối của lý trí của cuộc sống hôn nhân này, cũng bị cám dỗ để buông xuôi, để lỗi lời thề hứa bằng nhiều cách khác nhau. Nhưng trong tiếng "Xin vâng" được lặp lại trong mọi hoàn cảnh, trong hy hiến của tình yêu, chính là lúc họ nói lên được cái huy hoàng và chân thật của tình yêu họ dành cho nhau.
Đức Kitô cũng đã trải qua đêm tối của lý trí, lúc Ngài hoàn thành công cuộc cứu độ, lúc Ngài thực hiện việc kết hợp giữa Ngài và Giáo Hội như hiền thê: "Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con?". Khi sự hiến thân của Ngài không còn được nâng đỡ bởi sự hiểu biết, chính là lúc Ngài thích nhất, lúc của lễ chính bản thân Ngài trở nên hoàn hảo nhất. Đức Giêsu có thể cũng kêu gọi một vài cặp vợ chồng bước theo Ngài trên con đường tình yêu hoàn hảo đó, cũng như Ngài đã kêu gọi một số linh hồn yêu Ngài không lý do, không điều kiện. Cơn thử thách này và con đường thanh luyện triệt để này không chỉ dành cho những bậc khổ tu, những nhà huyền bí. Chúng cũng có thể là lời kêu gọi cho những cặp vợ chồng sống đời tận hiến cho nhau, như chính Ngài đã tận hiến cho loài người. Những người được mời gọi như thế là những linh hồn được ưu tuyển, vì Đức Giêsu chỉ mời gọi những ai mà Ngài biết chắc rằng họ sẽ chấp nhận để sống trọn vẹn tình yêu hy hiến cho nhau như tình yêu của chính Ngài.
Chúng ta có thể sợ hãi những thử thách để tinh luyện tình yêu như thế. Bình thường thôi. Vì chính Đức Kitô cũng lo sợ như vậy, đến độ người ta có thể nghĩ rằng sự sợ hãi làm cho Ngài run sợ đến chảy mồ hôi máu ở vườn cây dầu không phải vì Ngài lo sợ những khổ hình sắp phải chịu, mà là lo lắng cho đêm tối của lý trí đang chờ Ngài ở đỉnh núi sọ. Nhưng đó cũng là thử thách giúp chúng ta đạt đến tột đỉnh của đời sống Kitô hữu, có nghĩa là đạt được sự hoàn hảo của ba nhân đức Tin, Cậy, Mến. Khi đức tin bị bao phủ bởi bóng tối của lý trí mà vẫn vững tin, đức tin ấy trở nên tinh tuyền: khi đôi vợ chồng vẫn bền vững trong lời hứa thủy chung, vẫn tiếp tục trao thân gởi phận cho nhau, ngay cả khi không còn biết được lý do tại sao, thì lúc đó lời hứa thủy chung của họ đạt được giá trị đích thực của nó. Họ cũng trở nên hoàn hảo trong đức cậy, vì nó giúp cho họ tiếp tục duy trì sự cho đi, không nhờ vào cảm xúc, tình cảm, hay sức lực con người, mà chỉ nhờ vào ơn thánh Chúa mà họ đã nhận lãnh được qua bí tích hôn phối. Ơn thánh này tiếp tục được ban cho họ, giúp họ sống trọn vẹn mỗi giây phút những đòi hỏi của đời sống hôn nhân. Cuối cùng, họ trở nên hoàn hảo trong đức mến, trong tình yêu, khi tình yêu này tiếp tục được ban phát mà không cần lý lẽ. Tiếp tục yêu thương ngay cả khi mình không hiểu tại sao phải yêu thương chính là sự hoàn hảo của tình yêu, bởi vì đó chính là thứ tình yêu mà Đức Kitô đã yêu thương chúng ta: yêu thương không có lý do...
3. Cho tới khi cái chết chia cách chúng ta
Những đôi tân hôn thường ước muốn một cách ngây thơ là, không những được sống chung với nhau, mà còn được chết chung với nhau. Nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng việc ấy ít khi xảy ra, và tất cả mọi đôi tân hôn đều phải đối diện với sự mất đi của người mình yêu mến. Theo thống kê thì người nữ sống thọ hơn người nam, và vì thế thường hay phải chịu cảnh góa bụa, nhưng đó là một thử thách mà cả hai vợ chồng đều có thể gặp phải.
Cảnh góa bụa, trước tiên và dĩ nhiên là một thử thách để thanh luyện cảm xúc và tình cảm. Không còn được chia sẻ với nhau những chi tiết nhỏ nhặt trong cuộc sống thường ngày, không còn đưọc thấy mặt nhau, không còn được cảm nhận những yêu thương trìu mến của người mình yêu, không còn cảm thấy được sự hiện diện của người được gọi bằng chữ Mình ơi, (một xương một thịt), quả là một thử thách lớn lao, ngay cả khi thử thách này đã được báo trước và chuẩn bị chẳng hạn như trong thời gian nằm trên gường bệnh, việc này đã giúp cho đôi vợ chồng từ từ chấp nhận điều phải đến, nhưng lại gắn bó hai người lại với nhau một cách bí ẩn.
Đó cũng là một thử thách cho đời sống tâm linh. Khi hai vợ chồng không sống riêng rẽ, mỗi người một cuộc sống, mà sống hiệp thông với nhau, không những về thể xác và tình cảm, mà còn về tâm linh, thì khó mà trở về một đời sống tâm linh riêng lẻ. Nhưng chưa chắc phải như thế. Đời sống tâm linh trong cuộc sống góa bụa là một đời sống tâm linh của người độc thân hay vẫn phải giữ đặc tính của đôi vợ chồng? Người ta khó có thể nghĩ được rằng, sau khi đã chia sẻ với nhau trăm nghìn điều về đời sống nội tâm trong nhiều năm tháng, người ta trong một sáng một chiều, có thể sống như những việc ấy chưa bao giờ xảy ra vậy. Không những vô nhân đạo về phương diện tâm lý, mà lại vô lý trên bình diện tâm linh. Thế thì đời sống tâm linh của cảnh góa bụa phải là thế nào? Cốt yếu là việc thông công. Những người sống cảnh goá bụa đã làm chứng rằng họ thông công với người phối ngẫu đã qua đời với cường độ cao hơn và một cách thiết thực hơn. Nhà văn Công Giáo Jean Guitton đã làm chứng sau cái chết của vợ ông về kinh nghiệm chuyển từ việc đối thoại qua việc thông công. Nhưng chúng ta nói về việc thông công nào vậy? Chính là việc thông công mà Giáo Hội gọi là tín điều các thánh thông công. Đó không phải là sống trong kỷ niệm với những cảm xúc về người đã mất, nhưng là cảm nghiệm sự hiện diện của họ và sống với họ qua một sự thông công tâm linh, chứng tỏ rằng kinh nghiệm này vượt lên trên tất cả mọi sự cảm thông hay trải nghiệm họ đã từng trải với nhau trong suốt thời gian còn chung sống. Cái chết chia cách hai vợ chồng, nhưng lại kết hợp họ trong một sự hiệp thông hơn hẳn những gì họ đã chia sẻ với nhau khi còn sống. Đó phải là đời sống tâm linh của cuộc sống góa bụa, cuộc sống thông công mà chúng ta vẫn tuyên xưng mỗi Chúa Nhật trong kinh Tin Kính, có liên hệ trực tiếp đến mầu nhiệm Phục Sinh. Đời sống tâm linh này vẫn là một đời sống tâm linh của vợ chồng, nó còn vượt lên thêm một bực. Có thể nói cách khác, đó là sự trưởng thành hoàn hảo nhất của tình yêu vợ chồng.
Thật vậy, hôn nhân loan báo việc xác loài người sẽ sống lại vào ngày quang vinh của Đức Kitô - Vị hôn phu. Sự sống lại này sẽ là kết cục trọn hảo nhất của kiếp người chúng ta, nhờ sự kết hợp hoàn toàn với những gì chúng ta đã có cảm nghiệm trong cuộc sống này, trên bình diện thể xác và bình diện tâm linh. Nhưng sự sống lại cũng là thành quả hoàn hảo nhất của loài người, thụ tạo duy nhất được kêu gọi sống mầu nhiệm thông công: "Nước Trời, đức Gioan Phaolô dạy, chắc chắn là đích điểm của mọi ước vọng của loài người: đó là sự viên mãn của sự tốt lành mà con người ao ước, vượt khỏi mọi mơ ước mà con người có thể có trong cuộc sống ở trần gian này. Nó chính là sự viên mãn trọn hảo của ân huệ của Thiên Chúa" (Cuộc triều kiến ngày 21.4.1982). Trong ngày Phục Sinh, mầu nhiệm các thánh thông công sẽ được tỏ bày một cách rõ ràng, và chính Thiên Chúa sẽ là trung tâm của mầu nhiệm thông công này. Lúc ấy, con người sẽ nhận biết Thiên Chúa cách trọn vẹn, và đó chính là sự thông công trọn hảo.
Một thắc mắc của những người sống đời góa bụa là đời sau sẽ như thế nào, lúc xác kẻ chết sống lại. Đức Kitô đã chẳng tuyên bố sao: "Quả thế, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời". (Matthêu 22, 30). Cũng như bí tích hôn phối hình như chấm dứt với cái chết, vì Giáo Hội cho phép người ở góa được phép tái hôn, có nhiều người nghĩ rằng mối ràng buộc của đôi vợ chồng chấm dứt hoàn toàn với cái chết. Điều này có thể làm cho đời sống nội tâm bất ổn và có thể trở thành một nỗi ám ảnh nặng nề. Chẳng lẽ bí tích hôn phối mà chúng ta đã lãnh nhận có ít ý nghĩa và chẳng nặng ký bao nhiêu sao, bởi vì nó bị tiêu huỷ hoàn toàn trong thời viên mãn, nơi mà chúng ta được mời gọi bước tới? Trước tiên cần phải nhấn mạnh về câu mà Giáo Hội dùng trong nghi thức cử hành bí tích hôn phối. Câu "cho tới khi cái chết chia cách chúng ta" được thay bằng câu "suốt cuộc sống của chúng ta". Câu này không phải tầm thường đâu, vì "suốt cuộc sống của chúng ta" phải được hiểu là "suốt cuộc sống đời đời của chúng ta, mà cuộc sống ấy đã được bắt đầu trên trái đất này". Hơn nữa, cũng phải hiểu rõ lời của Đức Kitô nói với nhóm Sa đốc. Ngài không nói, "trong ngày sống lại, người ta không - là - vợ - là - chồng", nhưng ngài nói, "trong ngày sống lại, người ta - chẳng - lấy vợ lấy chồng". Trong ngày sống lại người ta không lấy vợ lấy chồng, bởi vì một lý do thật đơn giản là những gì được loan báo và bắt đầu ở dưới đất sẽ thực sự được hoàn thành trong ngày sống lại. Đức Gioan Phaolô 2 đã khẳng định rằng: "Bí tích Hôn phối có giá trị trên trời, giá trị cơ bản, phổ quát và bình thường" (Cuộc triều kiến ngày 31.03.1982). Nhưng những người sống cuộc sống vợ chồng dưới đất, sẽ có liên hệ với nhau thế nào, khi mối liên hệ vợ chồng được tiếp tục cách viên mãn trong nước Trời? Khó mà hình dung được. Nhưng thánh Tôma d'Aquin đã nói rằng: "Sự kết hợp hoàn toàn với Thiên Chúa trong ngày Phục Sinh không loại trừ việc chúng ta có thể có liên hệ gần gũi với ai đó, nhưng sự gần gũi này được đo bằng đức mến. Có nghĩa là trong ngày sống lại, chúng ta sẽ gần gũi hơn với những người chúng ta đã yêu thương hoặc với những người đã yêu thương chúng ta. Điều này cho phép ta nghĩ rằng thật là đúng cho những đôi vợ chồng đã sống đời hôn nhân với một tình yêu lớn nhất".
Cuộc sống góa bụa sắp đặt cho người sống nó trải nghiệm mầu nhiệm các thánh thông công, và điều này khẳng định rằng, linh đạo vợ chồng trong cảnh góa bụa là linh đạo của mầu nhiệm thông công. Linh đạo này vẫn là linh đạo của vợ chồng, nhưng trên một mức độ tuyệt vời hơn. Khi sống chiều kích thông công này một cách đặc biệt với người phối ngẫu đã quá cố, nhưng vẫn sống trong Thiên Chúa đợi chờ ngày sống lại, những người vợ, người chồng góa có thể trở thành những tiên tri đích thực của mầu nhiệm các thánh thông công.
LTS- « LINH ĐẠO HÔN PHỐI THEO THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II » là tác phẩm thứ 32 mà Ban Tu Thư Giáo Xứ Việt Nam Paris vừa soạn để « Kỷ niệm ngày Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được tuyên phong Hiển Thánh, 27.04.2014 » và để « Kỷ niệm 20 năm sinh hoạt của Ban Mục Vụ Gia Đình, 1995-2015 ». Chúng tôi xin được hân hạnh giới thiệu tác phẩm này với quí độc giả.
Xin Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban phúc lành cho những người góp phần thực hiện tác phẩm này, cũng như cho quí độc giả thân thương. Tất cả để vinh danh Thiên Chúa và thánh hóa các gia đình.
Bài được phổ biến :
1. LỜI MỞ, ngày 17.04.2014
2. Thần học Thân xác và Linh đạo Hôn phối của Lm Mai Đức Vinh, ngày 24.04.2014
3. Hôn nhân trong ánh sáng Hôn lễ của Đức Kytô và Giáo Hội, của Lm Mai Đức Vinh, ngày 01.05.2014
4. Duyên lành và thánh thiện của cặp vợ chồng của Ptvv Phạm Bá Nha, ngày 08.05.2014.
5. Để Hôn nhân trở nên một ơn gọi của C. Micheline Kim Chi, ngày 15.05.2014.
6. Hạnh phúc hôn nhân của AC Phạm Hòa Hiệp, ngày 22.05.2014
7. Làm sao để vợ chồng sống hạnh phúc của ÔB Phan Hữu Lộc, ngày 05.06.2014
8. Hôm nay, ngày 12.06.2014, xin giới thiệu bài 8 «Trưởng thành của tình yêu » do AC Nguyễn Long Hằng
TRƯỞNG THÀNH CỦA TÌNH YÊU
Yếu tố căn bản của linh đạo hôn nhân chính là tình yêu đong đầy trong trái tim của hai người phối ngẫu như quà tặng của Chúa Thánh Linh. Đôi tân hôn đón nhận ân huệ này qua bí tích hôn phối như một ân huệ đặc biệt. (Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 trong buổi triều kiến ngày 14.11.1984)
1. Đêm tối của cảm xúc
Các tác giả nổi tiếng của những bài viết về vấn đề thiêng liêng đều công nhận rằng, đời sống thiêng liêng thường gặp đó đây nhiều thử thách, tựa như những giai đoạn tăng trưởng cho đời sống thiêng liêng. Đó là đêm tối của cảm xúc, lúc mà linh hồn không còn hứng thú cầu nguyện, lúc mà đời sống tâm linh hình như đã mất đi mọi thú vị và hấp dẫn, đó là những đêm đen của linh hồn, là những kinh nghiệm đau đớn trong tăm tối của đức tin. Thánh Gioan Thánh Giá đã diễn tả cho chúng ta biết nhiều về tình trạng này. Nhưng gần đây nhất, đêm tối của Đức Tin mà mẹ thánh Têrêsa thành Calcutta đã trải qua càng làm cho chúng ta xúc động hơn nữa. Chính mẹ đã viết những lời này: "Người ta thường nói rằng, những kẻ sa vào hỏa ngục phải chịu khốn khổ đời đời chỉ vì đánh mất Thiên Chúa. Nhưng nếu họ còn có một chút cỏn con hy vọng là sẽ có được Thiên Chúa, thì chắc họ sẽ vượt qua được những khốn khổ đó. Nhưng trong hồn tôi, tôi cũng cảm thấy chính cái khốn khổ đánh mất Thiên Chúa đó, một Thiên Chúa không thương tôi nữa, một Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa, một Thiên Chúa thật ra không hiện hữu... Những bóng tối này bao phủ tôi tứ bề, tôi không thể vươn lên tới Thiên Chúa, không còn ánh sáng, không còn ơn soi sáng nào chiếu vào hồn tôi. Tôi nói về tình yêu của các linh hồn, về tình yêu dịu dàng dành cho Thiên Chúa - lời nói vừa ra khỏi miệng tôi thì tôi lại thất vọng vì tin vào đó... Thiên đàng, cả một sự trống rỗng! Không có một tư tưởng nào về thiên quốc lọt vào tâm trí tôi, bởi vì không còn hy vọng nữa" (Thư gởi cha Picachy, ngày 03.09.1959). Nhưng dầu vậy, mẹ thánh vẫn không ngừng yêu Chúa.
Thế thì tại sao đời sống phối ngẫu lại được miễn trừ những thử thách ấy nhỉ, những thử thách sẽ thanh luyện đôi vợ chồng và giúp cho tình yêu của họ đạt đến mức trưởng thành, hoàn hảo. Ơn gọi đời sống hôn nhân là con đường nên thánh đích thực, là một trong hai ơn gọi của đời sống Kitô hữu để cho đi chính mình, bên cạnh đời sống độc thân và trong sạch. (Tông huấn Familiaris Consortio, số 11), và như thế, đời sống hôn nhân là một con đường dẫn tới sự trọn hảo của tình yêu Thiên Chúa, thế thì làm sao con đường này không có những khó khăn và thử thách, như đời sống tu trì, tuy rằng dưới những hình thức khác nhau. Nếu không như vậy thì thật là bất bình thường. Và nếu một đời sống hôn nhân mà không gặp những thử thách như thế, thì có thể là đời sống hôn nhân ấy chỉ tà tà ở mức độ tầm thường.
Đêm tối của cảm xúc ít khi xảy đến vào những ngày tháng đầu của cuộc sống lứa đôi, lúc mà tình cảm của cả hai đang dạt dào, đang say mê đắm đuối. Chỉ khi một vài năm tháng đã trôi qua thì lúc đó người ta mới cảm thấy đêm tối của cảm xúc xuất hiện: "Họ không cảm thấy yêu người phối ngẫu nữa vì sự mãnh liệt của tình yêu đã dịu lắng lần". Chẳng có gì bất thường cả, ngay cả trên bình diện tâm lý. Những khám phá mới đây về lãnh vực tình dục cho thấy rằng những xúc cảm của tình yêu là kết quả của một hiện tượng phức tạp, đến từ nhiều lý do khác nhau, nhưng hiện tượng này sẽ biến mất dần, trung bình là sau chừng 36 tháng. Bởi đó người ta không thể ở trong tình trạng si mê đắm đuối vì yêu suốt đời được. Thế thì có cần phải lo lắng không? Nhiều người có thể sẽ rơi vào sự nhầm lẫn giữa tình yêu và cảm xúc yêu thương: "Tôi không cảm thấy là tôi yêu em (yêu anh) nữa. Bởi thế, chắc là tôi không yêu em (yêu anh) nữa!". Cần phải phân biệt một cách chín chắn ở đây. Thường thì tình trạng nhạt nhẽo này là kết quả của sự lười biếng trong tình yêu. Người ta mãi lo làm lụng, mãi lo chăm sóc con cái, lo cho mọi bận rộn ngày thường và cuối cùng thì người ta quên dành thời gian cho cuộc sống lứa đôi. Thế thì có cần cố gắng hết sức để làm sống lại những đắm đuối yêu thương, những si mê của những ngày đầu tiên không? Không có gì cấm cản cả nếu tình trạng này là kết quả của những sơ sót và lạnh nhạt đối với nhau. Trong trường hợp này, chỉnh đốn lại là điều cần làm, và nên làm.
Nhưng nếu đã cố gắng chỉnh đốn lại mà tình trạng này vẫn tiếp tục thì làm sao nhỉ? Có lẽ đã đến lúc cần phải tinh luyện tình yêu, trải qua một vài thử thách để cho tình yêu được trưởng thành, cũng là lúc khám phá ra sự thật là hành động yêu thương không chỉ là cảm thấy mình yêu thương. Trong "Tình yêu và trách nhiệm", đức Gioan Phaolô 2 đã phân tích và chứng minh rằng cảm xúc yêu thương chưa phải là trạng thái hoàn hảo của tình yêu. Trong cảm xúc yêu thương, khi chỉ tìm kiếm cảm xúc, có thể chính là một sự tìm kiếm chính mình trong đó. Tình yêu như thế, có nghĩa là người ta chỉ tìm kiếm sự thỏa mãn trong cảm xúc có được nhờ đối tượng yêu thương. Và có thể là, thật ra người ta đang yêu chính mình trong lúc yêu thương đắm đuối với người phối ngẫu. Những đắm đuối yêu thương này không có gì là xấu xa cả, miễn là chúng phải được gói trọn vào trong những thái độ cao cả hơn của tình yêu. Nếu người ta chỉ ở lại trong tình trạng này, thì có lẽ người ta chỉ nằm lại trong trạng thái ấu trĩ của tình yêu. Cần phải khám phá ra rằng cảm thấy mình yêu đắm đuối cũng chưa chắc là hành động yêu thương thật sự, đúng nghĩa của tình yêu. Bởi vì khi ấy, cảm xúc yêu thương còn nằm trên bình diện của sự nhạy cảm và của tình cảm: đối tượng yêu còn được tìm kiếm khi nào nó còn bù đắp được những gì thiếu thốn trong tôi. Vì thế, dĩ nhiên là kẻ đang yêu trở nên ích kỷ và không thể mở lòng ra với những gì cao quý hơn.
Thế thì khi nào người ta mới yêu thương thật sự? Khi người ta tìm kiếm trước hết là hạnh phúc của đối tượng yêu, nghĩa là khi người ta quên mình đi vì kẻ khác. Tình yêu khi đó trở nên thứ tình yêu vị tha. Người ta ước muốn cho đối tượng yêu được hạnh phúc mà không màng đến mình. Tình yêu vị tha vượt lên trên cái gọi là cảm xúc để ngự trị ở trình độ ý chí. Trong trường hợp này, tình yêu mới thực sự là tình yêu của con người, vì lúc ấy nó phải vận dụng khả năng đặc biệt mà chỉ con người mới có, đó là muốn điều tốt bởi vì việc đó tốt. Tình yêu say đắm nằm trên bình diện cảm xúc, còn tình yêu vị tha nằm trên bình diện của ý muốn. Trước hết là muốn điều tốt cho người mình yêu, tình yêu vị tha có thể dẫn đến việc hy sinh đi chính ý muốn của mình để thực hiện ý muốn của người yêu và tìm thấy niềm vui ở đó. Trong một khía cạnh nào đó, tình yêu vị tha là luôn luôn nói với người mình yêu rằng: "không theo ý tôi, nhưng theo ý anh (ý em)", và trong ý hướng này, nó mang một ý nghĩa hy sinh, quên mình. Khi hai người có một liên hệ với nhau trong trạng thái muốn điều tốt cho nhau, thì khi đó giữa họ nảy sinh ra một thứ tình cảm được gọi là tình bạn thân thiết. Bản chất của tình bạn thân là muốn điều tốt cho bạn, trước khi muốn cho bản thân mình. Và đôi vợ chồng được mời gọi sống tình bạn thân thiết này trong cuộc sống hôn nhân. Tình yêu vị tha không cản trở những cảm xúc đắm đuối yêu thương, lôi kéo hai người đến gần nhau. Trái lại, nó sẽ xác định, bao gồm và sắp đặt thứ tự để bảo đảm cho tình yêu vị tha này có được một viễn ảnh bền vững hơn. Thêm vào đó, khi tình yêu có tính chất hướng về người khác, chính là bước đầu tiên giúp cho tình yêu được trưởng thành. Nhưng tình yêu vị tha có phải là tột đỉnh của tình yêu vợ chồng không? Chắc chắn là không, vì tột đỉnh của tình yêu nằm trong sự cho đi chính bản thân mình. Đức Gioan Phaolô 2 gọi đó là tình yêu phu phụ. (ngài dùng chữ sponsal, gốc từ chữ latinh sponsus=chồng hay sponsa=vợ). Ngài định nghĩa tình yêu vợ chồng như sau: "Tình yêu vợ chồng khác hẳn mọi thứ tình yêu khác. Nó bao gồm việc cho đi chính bản thân mình. Tất cả mọi hy sinh, cố gắng để muốn điều tốt cho kẻ khác không đi xa bằng tình yêu vợ chồng. Cho đi chính bản thân mình chắc chắn là vượt cao hơn việc muốn điều tốt cho người khác, ngay cả trong khi muốn điều tốt cho kẻ khác, kẻ khác đó trở nên chính mình như trong tình bạn thân. Tình yêu vợ chồng, tình yêu phu phụ chính là thứ tình yêu tuyệt đỉnh mà đôi tân hôn được mời gọi, và với tình yêu này mà chính họ đã long trọng tuyên hứa với nhau - có khi không thật sự ý thức - qua lời này tuyên hứa kết hôn: "Anh (em) trao thân cho em (anh)". Mặc dầu câu tuyên hứa này chỉ có trong công thức thứ ba của nghi thức hôn phối, nó cũng được hiểu ngầm trong hai công thức khác. Trong tình yêu vợ chồng, đôi tân hôn đạt tới đích điểm của ơn gọi làm người của mình, vì đặc điểm của con người chính là tự cho đi chính bản thân mình. Công Đồng Vatican 2 đã khẳng định trong thông điệp Gaudium et Spes: "Con người là tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên cho chính mình. Họ chỉ có thể gặp lại bản thân mình nhờ chân thành cho đi chính bản thân mình" (Gaudium et Spes 24). Vì là con người, nên chỉ người khi biết trao tặng chính bản thân mình một cách hoàn toàn, không điều kiện và không giới hạn. Vì thế, trong hôn nhân, đôi tân hôn được mời gọi để trao tặng chính bản thân mình cho người phối ngẫu, cũng như những linh mục tu sĩ được mời gọi trao tặng chính bản thân mình cho Thiên Chúa. Trong mọi đời sống, để sống trọn ơn gọi làm người, đời sống đó phải biết cho đi, trong đời sống gia đình hay đời sống thánh hiến.
Nóng bỏng với những tình cảm dạt dào của thời gian đầu gặp gỡ, đôi tân hôn không nhận thức được rằng mình được mời gọi sống đời tận hiến cho người mình yêu. Cho đến khi những cảm xúc ấy lặng dần, đó là lúc đôi tân hôn phải nhận thức được ý nghĩa sâu thẳm của việc lãnh nhận bí tích hôn phối. Đêm tối của cảm xúc chắc chắn là một dịp may để thăng tiến tình yêu đến mức trưởng thành. Nó có thể là một lời mời gọi vượt qua, từ tình yêu thiên về cảm xúc tiến đến một tình quên mình, để từ đó họ thực hiện ơn gọi làm người của mình. Sẽ có những lúc say mê, những lúc đắm đuối, cũng tốt thôi. Nhưng họ sẽ không còn nghĩ rằng yêu nhau chỉ là cảm thấy yêu. Họ sẽ khám phá ra rằng yêu thương thật sự chính là trao tặng chính bản thân mình mà không cần đền đáp, không cần điều kiện, một cách nhưng không.
2. Đêm tối của lý trí
Nếu tình yêu phu phụ có thể thanh luyện và truởng thành trong đêm tối của cảm xúc, đôi khi đôi tân hôn cũng được mời gọi để trải qua một hình thức triệt để và đôi khi đau đớn hơn của sự thanh luyện. Có thể người ta sẽ không những không cảm thấy mình yêu, mà còn không biết là mình yêu. Không hiểu tại sao mình lấy nhau, lấy nhau để làm gì, tại sao lại lấy người này, người kia, có thể lầm lẫn vì đã lấy nhau, lầm lẫn trong ơn gọi, nghi ngờ phép cưới không thành v.v... Đêm tối này nằm trong lãnh vực của lý trí, của suy nghĩ chứ không còn nằm trong lãnh vực cảm xúc hay tình cảm. Đó là thử thách tối cao của tình yêu, mà lần này tình yêu chỉ tồn tại được là nhờ ý chí của người phối ngẫu đối với lời hứa trung thành. Đây là một thử thách không diễn tả được, một thử thách sống còn, một cuộc chiến thiêng liêng cần đến vũ khí là lời cầu nguyện. Đức Gioan Phaolô 2 đã nhấn mạnh điều này trong buổi triều kiến chung ngày 27.6.1984, khi ngài giảng giải đoạn kinh thánh nói về việc thành hôn của Tobie và Sara. Vì Sara bị chúc dữ, nên hôn sự của họ được so sánh bằng trận chiến sống còn và đôi tân hôn bị lôi cuốn vào trận chiến của sự lành và sự dữ. Thế thì làm sao họ chiến thắng được sự dữ ? Nhờ lời cầu nguyện mà Tobie mời gọi Sara trong đêm tân hôn, cả hai đã tuyên bố đặt Thiên Chúa vào giữa hôn sự của họ, qua đó họ mặc lấy sức mạnh của chính Ngài. Trong đêm tối của lý trí, đôi vợ chồng phải nhận thức rõ ràng về ý nghĩa và tầm quan trọng của những lời mà họ đã tuyên bố khi trao thân gởi phận cho nhau: "Để yêu em (anh) trong vui mừng cũng như khi bị thử thách, trong hạnh phúc cũng như lúc gian nan". Để yêu em một cách trung thành, cho dù anh không biết em có yêu anh không, cho dù anh không hiểu gì nữa về cuộc sống hôn nhân của chúng mình, cho dù anh không còn chút cảm xúc nào, cho dù anh trách móc em vì em không hiểu anh, cho dù anh tự trách anh vì đã không hiểu em... Trung thành đến cùng, không điều kiện, cho dù tất cả chung quanh ta thúc đẩy ta nuốt lời đã hứa. Trung thành không phải vì con cái, vì sợ người ta nói, vì thể diện gia đình, vì nề nếp xã hội, nhưng bởi vì đã cho đi chính bản thân mình, cho đi mà không lấy lại, cho đi mãi mãi. Chính đó là sự thanh lọc cuối cùng. Chính đó là lúc mà hôn nhân trở nên mong manh và chỉ còn tồn tại được là nhờ vào ý chí, muốn tiếp tục cho đi trong khi trí khôn lại bảo rằng không còn lý do nào để tiếp tục cho đi. Đó cũng là lúc mà ma quỷ tăng cường nỗ lực để đánh lạc hướng của đôi vợ chồng về sự trao thân gởi phận mà họ đã thề hứa. Cũng giống như cô Marthe Robin tâm sự rằng, ma quỷ đã thôi thúc cô rằng "Có ích gì nhỉ?" khi mỗi tuần cô được diễm phúc sống lại cuộc khổ nạn của Đức Kitô, thì đôi vợ chồng, trong đêm tối của lý trí của cuộc sống hôn nhân này, cũng bị cám dỗ để buông xuôi, để lỗi lời thề hứa bằng nhiều cách khác nhau. Nhưng trong tiếng "Xin vâng" được lặp lại trong mọi hoàn cảnh, trong hy hiến của tình yêu, chính là lúc họ nói lên được cái huy hoàng và chân thật của tình yêu họ dành cho nhau.
Đức Kitô cũng đã trải qua đêm tối của lý trí, lúc Ngài hoàn thành công cuộc cứu độ, lúc Ngài thực hiện việc kết hợp giữa Ngài và Giáo Hội như hiền thê: "Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con?". Khi sự hiến thân của Ngài không còn được nâng đỡ bởi sự hiểu biết, chính là lúc Ngài thích nhất, lúc của lễ chính bản thân Ngài trở nên hoàn hảo nhất. Đức Giêsu có thể cũng kêu gọi một vài cặp vợ chồng bước theo Ngài trên con đường tình yêu hoàn hảo đó, cũng như Ngài đã kêu gọi một số linh hồn yêu Ngài không lý do, không điều kiện. Cơn thử thách này và con đường thanh luyện triệt để này không chỉ dành cho những bậc khổ tu, những nhà huyền bí. Chúng cũng có thể là lời kêu gọi cho những cặp vợ chồng sống đời tận hiến cho nhau, như chính Ngài đã tận hiến cho loài người. Những người được mời gọi như thế là những linh hồn được ưu tuyển, vì Đức Giêsu chỉ mời gọi những ai mà Ngài biết chắc rằng họ sẽ chấp nhận để sống trọn vẹn tình yêu hy hiến cho nhau như tình yêu của chính Ngài.
Chúng ta có thể sợ hãi những thử thách để tinh luyện tình yêu như thế. Bình thường thôi. Vì chính Đức Kitô cũng lo sợ như vậy, đến độ người ta có thể nghĩ rằng sự sợ hãi làm cho Ngài run sợ đến chảy mồ hôi máu ở vườn cây dầu không phải vì Ngài lo sợ những khổ hình sắp phải chịu, mà là lo lắng cho đêm tối của lý trí đang chờ Ngài ở đỉnh núi sọ. Nhưng đó cũng là thử thách giúp chúng ta đạt đến tột đỉnh của đời sống Kitô hữu, có nghĩa là đạt được sự hoàn hảo của ba nhân đức Tin, Cậy, Mến. Khi đức tin bị bao phủ bởi bóng tối của lý trí mà vẫn vững tin, đức tin ấy trở nên tinh tuyền: khi đôi vợ chồng vẫn bền vững trong lời hứa thủy chung, vẫn tiếp tục trao thân gởi phận cho nhau, ngay cả khi không còn biết được lý do tại sao, thì lúc đó lời hứa thủy chung của họ đạt được giá trị đích thực của nó. Họ cũng trở nên hoàn hảo trong đức cậy, vì nó giúp cho họ tiếp tục duy trì sự cho đi, không nhờ vào cảm xúc, tình cảm, hay sức lực con người, mà chỉ nhờ vào ơn thánh Chúa mà họ đã nhận lãnh được qua bí tích hôn phối. Ơn thánh này tiếp tục được ban cho họ, giúp họ sống trọn vẹn mỗi giây phút những đòi hỏi của đời sống hôn nhân. Cuối cùng, họ trở nên hoàn hảo trong đức mến, trong tình yêu, khi tình yêu này tiếp tục được ban phát mà không cần lý lẽ. Tiếp tục yêu thương ngay cả khi mình không hiểu tại sao phải yêu thương chính là sự hoàn hảo của tình yêu, bởi vì đó chính là thứ tình yêu mà Đức Kitô đã yêu thương chúng ta: yêu thương không có lý do...
3. Cho tới khi cái chết chia cách chúng ta
Những đôi tân hôn thường ước muốn một cách ngây thơ là, không những được sống chung với nhau, mà còn được chết chung với nhau. Nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng việc ấy ít khi xảy ra, và tất cả mọi đôi tân hôn đều phải đối diện với sự mất đi của người mình yêu mến. Theo thống kê thì người nữ sống thọ hơn người nam, và vì thế thường hay phải chịu cảnh góa bụa, nhưng đó là một thử thách mà cả hai vợ chồng đều có thể gặp phải.
Cảnh góa bụa, trước tiên và dĩ nhiên là một thử thách để thanh luyện cảm xúc và tình cảm. Không còn được chia sẻ với nhau những chi tiết nhỏ nhặt trong cuộc sống thường ngày, không còn đưọc thấy mặt nhau, không còn được cảm nhận những yêu thương trìu mến của người mình yêu, không còn cảm thấy được sự hiện diện của người được gọi bằng chữ Mình ơi, (một xương một thịt), quả là một thử thách lớn lao, ngay cả khi thử thách này đã được báo trước và chuẩn bị chẳng hạn như trong thời gian nằm trên gường bệnh, việc này đã giúp cho đôi vợ chồng từ từ chấp nhận điều phải đến, nhưng lại gắn bó hai người lại với nhau một cách bí ẩn.
Đó cũng là một thử thách cho đời sống tâm linh. Khi hai vợ chồng không sống riêng rẽ, mỗi người một cuộc sống, mà sống hiệp thông với nhau, không những về thể xác và tình cảm, mà còn về tâm linh, thì khó mà trở về một đời sống tâm linh riêng lẻ. Nhưng chưa chắc phải như thế. Đời sống tâm linh trong cuộc sống góa bụa là một đời sống tâm linh của người độc thân hay vẫn phải giữ đặc tính của đôi vợ chồng? Người ta khó có thể nghĩ được rằng, sau khi đã chia sẻ với nhau trăm nghìn điều về đời sống nội tâm trong nhiều năm tháng, người ta trong một sáng một chiều, có thể sống như những việc ấy chưa bao giờ xảy ra vậy. Không những vô nhân đạo về phương diện tâm lý, mà lại vô lý trên bình diện tâm linh. Thế thì đời sống tâm linh của cảnh góa bụa phải là thế nào? Cốt yếu là việc thông công. Những người sống cảnh goá bụa đã làm chứng rằng họ thông công với người phối ngẫu đã qua đời với cường độ cao hơn và một cách thiết thực hơn. Nhà văn Công Giáo Jean Guitton đã làm chứng sau cái chết của vợ ông về kinh nghiệm chuyển từ việc đối thoại qua việc thông công. Nhưng chúng ta nói về việc thông công nào vậy? Chính là việc thông công mà Giáo Hội gọi là tín điều các thánh thông công. Đó không phải là sống trong kỷ niệm với những cảm xúc về người đã mất, nhưng là cảm nghiệm sự hiện diện của họ và sống với họ qua một sự thông công tâm linh, chứng tỏ rằng kinh nghiệm này vượt lên trên tất cả mọi sự cảm thông hay trải nghiệm họ đã từng trải với nhau trong suốt thời gian còn chung sống. Cái chết chia cách hai vợ chồng, nhưng lại kết hợp họ trong một sự hiệp thông hơn hẳn những gì họ đã chia sẻ với nhau khi còn sống. Đó phải là đời sống tâm linh của cuộc sống góa bụa, cuộc sống thông công mà chúng ta vẫn tuyên xưng mỗi Chúa Nhật trong kinh Tin Kính, có liên hệ trực tiếp đến mầu nhiệm Phục Sinh. Đời sống tâm linh này vẫn là một đời sống tâm linh của vợ chồng, nó còn vượt lên thêm một bực. Có thể nói cách khác, đó là sự trưởng thành hoàn hảo nhất của tình yêu vợ chồng.
Thật vậy, hôn nhân loan báo việc xác loài người sẽ sống lại vào ngày quang vinh của Đức Kitô - Vị hôn phu. Sự sống lại này sẽ là kết cục trọn hảo nhất của kiếp người chúng ta, nhờ sự kết hợp hoàn toàn với những gì chúng ta đã có cảm nghiệm trong cuộc sống này, trên bình diện thể xác và bình diện tâm linh. Nhưng sự sống lại cũng là thành quả hoàn hảo nhất của loài người, thụ tạo duy nhất được kêu gọi sống mầu nhiệm thông công: "Nước Trời, đức Gioan Phaolô dạy, chắc chắn là đích điểm của mọi ước vọng của loài người: đó là sự viên mãn của sự tốt lành mà con người ao ước, vượt khỏi mọi mơ ước mà con người có thể có trong cuộc sống ở trần gian này. Nó chính là sự viên mãn trọn hảo của ân huệ của Thiên Chúa" (Cuộc triều kiến ngày 21.4.1982). Trong ngày Phục Sinh, mầu nhiệm các thánh thông công sẽ được tỏ bày một cách rõ ràng, và chính Thiên Chúa sẽ là trung tâm của mầu nhiệm thông công này. Lúc ấy, con người sẽ nhận biết Thiên Chúa cách trọn vẹn, và đó chính là sự thông công trọn hảo.
Một thắc mắc của những người sống đời góa bụa là đời sau sẽ như thế nào, lúc xác kẻ chết sống lại. Đức Kitô đã chẳng tuyên bố sao: "Quả thế, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời". (Matthêu 22, 30). Cũng như bí tích hôn phối hình như chấm dứt với cái chết, vì Giáo Hội cho phép người ở góa được phép tái hôn, có nhiều người nghĩ rằng mối ràng buộc của đôi vợ chồng chấm dứt hoàn toàn với cái chết. Điều này có thể làm cho đời sống nội tâm bất ổn và có thể trở thành một nỗi ám ảnh nặng nề. Chẳng lẽ bí tích hôn phối mà chúng ta đã lãnh nhận có ít ý nghĩa và chẳng nặng ký bao nhiêu sao, bởi vì nó bị tiêu huỷ hoàn toàn trong thời viên mãn, nơi mà chúng ta được mời gọi bước tới? Trước tiên cần phải nhấn mạnh về câu mà Giáo Hội dùng trong nghi thức cử hành bí tích hôn phối. Câu "cho tới khi cái chết chia cách chúng ta" được thay bằng câu "suốt cuộc sống của chúng ta". Câu này không phải tầm thường đâu, vì "suốt cuộc sống của chúng ta" phải được hiểu là "suốt cuộc sống đời đời của chúng ta, mà cuộc sống ấy đã được bắt đầu trên trái đất này". Hơn nữa, cũng phải hiểu rõ lời của Đức Kitô nói với nhóm Sa đốc. Ngài không nói, "trong ngày sống lại, người ta không - là - vợ - là - chồng", nhưng ngài nói, "trong ngày sống lại, người ta - chẳng - lấy vợ lấy chồng". Trong ngày sống lại người ta không lấy vợ lấy chồng, bởi vì một lý do thật đơn giản là những gì được loan báo và bắt đầu ở dưới đất sẽ thực sự được hoàn thành trong ngày sống lại. Đức Gioan Phaolô 2 đã khẳng định rằng: "Bí tích Hôn phối có giá trị trên trời, giá trị cơ bản, phổ quát và bình thường" (Cuộc triều kiến ngày 31.03.1982). Nhưng những người sống cuộc sống vợ chồng dưới đất, sẽ có liên hệ với nhau thế nào, khi mối liên hệ vợ chồng được tiếp tục cách viên mãn trong nước Trời? Khó mà hình dung được. Nhưng thánh Tôma d'Aquin đã nói rằng: "Sự kết hợp hoàn toàn với Thiên Chúa trong ngày Phục Sinh không loại trừ việc chúng ta có thể có liên hệ gần gũi với ai đó, nhưng sự gần gũi này được đo bằng đức mến. Có nghĩa là trong ngày sống lại, chúng ta sẽ gần gũi hơn với những người chúng ta đã yêu thương hoặc với những người đã yêu thương chúng ta. Điều này cho phép ta nghĩ rằng thật là đúng cho những đôi vợ chồng đã sống đời hôn nhân với một tình yêu lớn nhất".
Cuộc sống góa bụa sắp đặt cho người sống nó trải nghiệm mầu nhiệm các thánh thông công, và điều này khẳng định rằng, linh đạo vợ chồng trong cảnh góa bụa là linh đạo của mầu nhiệm thông công. Linh đạo này vẫn là linh đạo của vợ chồng, nhưng trên một mức độ tuyệt vời hơn. Khi sống chiều kích thông công này một cách đặc biệt với người phối ngẫu đã quá cố, nhưng vẫn sống trong Thiên Chúa đợi chờ ngày sống lại, những người vợ, người chồng góa có thể trở thành những tiên tri đích thực của mầu nhiệm các thánh thông công.
Cứu-Chuộc, Nhờ tình Thương-yêu Công-chính
Mai Tá
14:30 21/06/2014
Chương Bốn: Cứu-Chuộc, Nhờ tình Thương-yêu Công-chính
(bài 20)
“Cơ-cấu thiết-lập mọi thực-tại, thật ra là lòng xót thương hết mọi sự”. (Noel Rowe)
“Ân-huệ, giống như người nữ đẹp-xinh tạo âm-nhạc ở bất cứ nơi nào Chị đặt chân đến. Ân-huệ mang trong mình, chỉ một hạt ngọc đơn-thuần, nhưng khi Chị đã đi vào toàn-bộ thế-giới hiện-thực ở mọi nơi, và khi Chị chấp-thuận hết mọi sự theo cách-thức không đòi điều-kiện, thì Chị đã có thể chữa lành và tha thứ hết, mà không cần nghĩ-suy. Ân-huệ chấp-nhận mọi sự, chỉ như thế cũng có khả-năng loại-trừ mọi món nợ và ân-cần phụ-đỡ hết mọi thứ khiến ta xấu hổ. Ân-huệ mang trong người, thứ “nghiệp-căn” mâu-thuẫn, hầu đem đến cho ta những gì ta đáng được hưởng. Nhưng, chẳng khi nào ta hưởng được những gì mình xứng-đáng từ Ân-huệ, ngoại trừ sự lặng-thinh. Và, Ân-huệ đã ngưng không nói chuyện khi gần gũi ta. Ân-huệ vẫn ra đi tìm đến hết mọi thứ, để tác-tạo vẻ đẹp của mình ở nơi nào Chị đặt chân đến.” (Ben Witherington iii)
Ơn Cứu-Chuộc, là nhiệm-tích rất đáng yêu. Là, những gì bí-ẩn của Tình Thương-yêu cao cả gồm có sự Công-chính nữa. Đây, là thứ bí-nhiệm của Công-chính không tục-phàm, với ta.
Nếu có ai hỏi:
“Tình thương-yêu thật ra có nghĩa gì?”
“Sự Công-chính từ đâu đến?”
thì câu trả lời, hẳn sẽ bao-gồm cả tình Thương-yêu thần-thánh, tức: sự Công-chính thánh-thiêng của Thiên-Chúa. Thành thử, ta nên dừng lại một chút, trước khi đặt mình vào với dữ-kiện của Kinh Sách và Thánh-truyền, để rồi sẽ suy thêm về Chúa với câu hỏi đặt ra từ bao giờ:
“Thiên-Chúa, Ngài là Đấng nào?”
“Ngài yêu-thương ta đến mức độ nào?”
“Ngài có công-bằng chính-trực đích-thực không?”
Vấn-đề đây, lại đề ra một số phương-án để ta theo, tức: những phương-án tương-tự như ở Kinh-Thánh, tâm-lý-học và kinh-tế/tài chánh của nhiều người.
Phần 1:
Ơn Cứu-Chuộc
và phương-án ở Kinh-Thánh
Trước hết, tôi muốn tạo dịp để anh em mình bàn về Kinh-thánh trước hết. Bởi, Kinh-thánh luôn đính-kèm một công-trình luận-giải cũng rất mới về sự Công-minh/chính-trực của Chúa, theo cách mà người Đức vẫn làm. Ở đây, tôi chú-tâm đến lập-trường của tác-giả Hartmut Gese, thuộc trường-phái Tubingen. Lập-trường ông đề-xuất, đã mở ra một số tư-tưởng bàn về chất-lượng của lòng xót thương, vô bến bờ.
Ở đây nữa, tôi lại sẽ ghi thêm lối diễn-giải cũng khá mới được một giáo-sĩ người Pháp thuộc Dòng Đa-Minh, đó là: Lm Christian Duquoc, tỉnh dòng Lyons, đưa ra. Và, ở tông-thư “Thiên-Chúa Là Tình-yêu”, Đức Bênêđíchtô 16 cũng đưa ra lề-lối hiểu-biết về tình Thương-yêu thần-thánh, tức: tình Yêu-thương đích-thực mà người Hy Lạp gọi là “Eros” chứ không chỉ là tình thân-thương mến-mộ vẫn được định-danh là Agapè bên tiếng Hy-Lạp, vốn đem đến cho ta lý-lẽ cần-thiết hầu hội-nhập vào sự Công-minh thần-thánh có thương-yêu đích-thực.
Cung-cách diễn-giải
của người Đức
theo trường-phái Tubingen
Cũng nên xem thêm tác-giả Richard Bell, Sacrifice and Christology in Paul, Journal of Theological Studies (Oxford), 2002, April, tr. 1-27. Bài viết này sử-dụng một số nghiên-cứu rút từ trường-phái Tubingen, cách đây không lâu. Bài viết, tiếp theo diễn-luận của Hartmut Gese trong “Die Suhne”, Zur biblischen Theologie, Tubingen, 1977 (1989).
ET K. Crim Atonement, Essays in biblical theology, Augsburg 1981. Ngoài hai tác-giả này ra, cũng trong chiều hướng tương-tự, còn có cả Janowski, Stuhlmache, Hofius nữa.
Quan-điểm mà quý vị đây đưa ra, lại mang ý-niệm về sự công-chính vốn duy-trì quan-hệ giữa Thiên-Chúa và loài người; nhưng đúng thực lại là: giữa Đức Giêsu và dân con từng phạm lỗi ở trong Đạo. Thật ra thì, đây không là sự công-minh/chính-trực theo kiểu người phàm, như ta hiểu.
Từ nơi đây, ta cần nhận-chân ra rằng: Thiên-Chúa, với tư-cách là Chúa, Ngài chẳng cần sự gì hết. Nhận-định này, đã kéo theo hệ-quả là: không gì khả dĩ thúc-ép từ bên trong hoặc đè nặng lên Chúa, để Ngài làm bất cứ điều gì đặc-biệt, hòng cứu-chuộc ta ra khỏi trạng-huống những lỗi và tội. Chúa có tự-do làm bất cứ thứ gì Ngài muốn, như tạo-dựng hoặc cứu-chuộc mọi sự. Ngài hành-xử theo cách rất “hào-phóng”. Hào-phóng đây, có nghĩa: tạo lợi-ích cho mọi người. Hào-phóng -ngay chính từ-vựng này từng diễn-tả- đã liên-kết mọi sự tốt-lành mà bên tiếng La-tinh, thiên-hạ có thói quen gọi đó là “Bonitas”, tức: Sự Tốt-lành của Chúa, ở tầm-kích rất siêu-phàm.
Bản-chất của Chúa, lại có nghĩa: Ngài rất “tốt lành và siêu-việt”, nên từ phần thâm-sâu của từ-vựng, tính “hào-phóng” của Chúa, ta không thể cắt-nghĩa bằng ngôn-từ mà người phàm thường sử-dụng được. Bởi, đó là bí-nhiệm của Chúa và về Chúa. Là, thứ gì đó mà loài người, thật ra, không thể nắm bắt được điều gì thuộc về Chúa.
Từ-vựng “hào-phóng” -dù là ngôn-từ thuần-tuý của con người- vẫn có thể nối-kết với các dự-phóng đưa về phía trước, hầu đưa ta đến được với nó. Thành ra, ta bảo là: Chúa tự đặt Ngài vào vị-thế đầy hào-phóng, tức Ngài khấng-mang điều gì đó ngay nơi bản-chất của Ngài, để Ngài hành-xử một cách hào-phóng, tốt lành. Thiên-Chúa nối-kết một cách công-minh với chính Ngài, để mọi sự được ra như thế. Điều đó, ta gọi là sự Công-chính, tức bản-chất rất công-minh của Đức Chúa. Bởi, theo nghĩa thâm-sâu nơi bản-chất Ngài, Chúa có khuynh-hướng làm thế, nên sở dĩ Ngài mang tính hào-phóng là do bởi chính sự hào-phóng của Ngài, mà ra. Ở đây, tiếng La-tinh thường diễn-tả rất rõ bằng thành-ngữ “bonum diffusivum suis”, tức: từ-vựng mang cùng một ý-niệm.
Lỗi/tội con người phàm, không thể cất đi đặc-trưng này của Chúa, được. Tính hào-phóng của Ngài không hề giảm-suy, cho dù con người có dính-dự vào đó. Và, đó không là những gì mà lỗi/tội của con người, lại có khả-năng làm mất tính hào phóng ấy được. Đúng ra, tội hoặc lỗi chỉ khiến cho con người càng xa-cách/tách rời khỏi kế-hoạch của Chúa từ thuở đầu, mà thôi. Và, động-tác ban đầu của Chúa, có nghĩa là: Ngài phú-ban chính mình Ngài một cách hào-phóng cho mọi thọ-tạo được thụ-hưởng. Lỗi/tội, là sự thể khiến ta để luột mất tính hào-phóng mà Ngài vẫn ban.
Nhưng, khi lỗi/tội xuất đầu lộ diện, thì đó là lúc Chúa hành-xử một cách có tự-do theo bản-chất của Ngài. Và, Ngài từ-khước không để cho lỗi/tội được phép can-dự vào kế-hoạch ban đầu đầy hào-phóng của Ngài, bao giờ hết. Đây là lý-do tại sao Chúa lại khước-từ không giữ các lỗi/tội xuất từ con người đầy lầm lẫn. Thay vào đó, do bởi đặc-trưng và nguyên-lý về tính hào-phóng cũng như sự Công-minh của Ngài, Chúa sử-dụng lỗi/tội của người phàm như cơ-hội để Ngài tỏ-lộ sự hào-phóng của Ngài nhiều hơn nữa, theo cung-cách tốt-lành hơn, để ta có được khả-năng tiếp-tục được hào-phóng/siêu-thăng hầu nới rộng bản-chất ấy.
Thiên-Chúa tiếp-tục ban-phát quà tặng ban đầu của Ngài. Và, Ngài vẫn liên-tục tặng ban như thế mãi, suốt thiên-thu. Đây, lại là sự việc tái-lập động-tác ban đầu với tổ-tông loài người, hầu cải-biến nó để con người nhận ra nét siêu-thăng tuyệt-vời bằng vào sử-dụng cơ-hội mới này một cách đầy hào-phóng. Theo cách này, Thiên-Chúa khiến con người vốn từng phạm lỗi rất “tày trời”, được phép trở về với cội-nguồn tạo-dựng thành người. Thiên-Chúa trở về với động-tác thương-yêu thần-thánh có từ đầu. Ngài làm thế, theo đặc-trưng Công-minh/chính-trực của Ngài và với Ngài.
Nay, ta được phép gọi sự Công-minh/chính-trực của Chúa là sự tái-tạo Công-chính, và tái-tục tạo-dựng cho nên mới. Công-chính đây, là nguyên-lý của sự hiệp-nhất và cũng là sự hợp-lực và kết-hiệp với loài người đã được Ngài cứu-chuộc. Theo tôi, đây cũng là lý-do cho thấy tại sao ta có được vị-thế chính-thức ở với Chúa, trong đó có hoà-trộn giữa sự Công-chính và lòng Xót thương của Ngài. Xót thương, không là lòng trắc-ẩn khả dĩ khiến Chúa mủi lòng, để “ai đó thoát khỏi vòng cương-toả ràng-buộc cũng rất gắt gao” đòi sự Công-minh thần-thánh, cách trọn vẹn.
Nhưng, đây là thứ ngôn-từ khác-biệt nói lên loại-hình thật rất khác về sự Công-minh/chính-trực, khiến Chúa có khuynh-hướng thiên về tính hào-phóng của Ngài hơn. Nơi con người, chưa từng có ví-dụ cụ-thể nào Khả dĩ chứng-tỏ sự công-minh/chính-trực ngang-đồng tầm-mức của họ. Bởi thế nên, thật khó tìm ra ngôn-từ nào thích-hợp hầu diễn-tả sự Công-minh theo tầm-kích của Chúa, dù ta có cố gắng.
Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có ai tìm được những gì tự hồ như thế. Bởi, Thiên-Chúa dự-trù cho phép con người được tham-dự vào sự hiệp-thông trọn-vẹn với Ngài, nên Ngài chọn kiến-tạo cung-cách mới, để con người có được sự hiệp-thông liên-kết này. Đây, chính là ý-nghĩa và là chủ-đích của công-cuộc tạo-dựng. Và, nơi nhân-tính của Ngài, Đức Giêsu đã thể-hiện rõ ý-định của Chúa Cha về sự Công-minh/chính-trực và lòng Xót thương hoà-trộn vào với nhau thành một. Và, do bởi Chúa có nhân-tính làm Con-Thiên-Chúa, nên toàn-thể nhân-loại không ai có khả-năng rút ra khỏi sự hiệp-thông trọn-vẹn với Chúa, là Đấng yêu-thương con người, đến muôn đời.
Nơi bản-chất rất “người” của Đức Giêsu, tất cả được “duy trì làm một với nhau”, mãi về sau. Và mạch tương-quan nối liền Đức Giêsu với Thiên-Chúa-là-Cha, chính là sự Công-minh/Chính-trực của Ngài. Cả Chúa Cha và Con-Một-Ngài, đều hướng về tính hào-phóng cùng một kiểu như thế.
Quả thật, Đức Giêsu đã đích-thực sống như Đấng Bào-chữa cho sự Công-chính của Thiên-Chúa. Nhưng, không dựa vào sự kiên-quyết ngay từ đầu, mà ít ra là, bằng vào sự Công-chính của Chúa theo cách “trải rộng ra bên ngoài” mà người bình-thường có thể hiểu được. Đúng ra, sự Công-chính của Chúa mang đầy tính “công-minh/hào-phóng” với con người.
Đằng khác, Đức Giêsu luôn sống thực nguyên-lý hiệp-thông tham-gia vào tính hào-phóng tác-tạo của Thiên-Chúa. Kết-quả là, nơi thế-gian trong đó Đức Giêsu từng sống thực, lại kình-chống nguyên-lý này, nên mới xa rời Ngài cách đáng tiếc. Thành thử, đây cũng là lý-do cho thấy tại sao thế-gian lại quyết-tâm trừ-khử Ngài ra khỏi vòng quay cuộc sống. Tuy thế, Ngài vẫn xuyên-suốt đi ngang qua nỗi chết, hầu tháp-nhập vào sự sống vĩnh-hằng, rất Phục-sinh. Điều này lại có nghĩa: thế-gian không làm gì được Ngài, nên những muốn ngưng-trệ việc thể-hiện tính hào-phóng của Thiên-Chúa-là-Cha, qua Ngài. Điều này còn có nghĩa: sự việc nhân-loại hiệp-thông tham-gia với Chúa và trong Chúa, sẽ kéo dài mãi đến thiên thu. Và, chính thế-gian, dù bản-chất của họ có thế nào đi nữa, nhưng nhờ vào sự trỗi-dậy/Phục-sinh của Đức Giêsu, họ được minh-xác ngay trong sự biến-cải/đổi-hình của chính mình.
Ở đây nữa, lại đã có lập-trường/quan-điểm của ai đó cứ cho rằng: toàn-bộ dự-án tiêu-cực của con người đều gẫy đổ, may nhờ Đức Giêsu kịp đến hiện-diện ngay lúc đó, tức: đúng vào thời-điểm của Thứ Bẩy Phục Sinh, để Ngài nhập vào với vũ-trụ vạn vật. Ở nơi đây, Đức Giêsu cũng tự hiến mình Ngài như Đấng Thiên-Sai chấp-nhận toàn-bộ tính tiêu-cực này. Có điều lạ, là: Ngài lại đã trở-thành Đấng nhận-lãnh thứ “bình-an hào phóng” của vũ-trụ không gẫy đổ, vào rạng sáng khi Vương-Quốc Phục-Sinh vừa ló dạng. Ngài xứng-hợp điều này, là do Ngài tự-do mở rộng tính hào-phóng khiến Ngài biểu-tỏ qua cái chết khổ-nhục trên thập-tự. Theo cách này thì, nếu muốn, ta có thể sử-dụng từ-vựng “Cứu-chuộc”, cũng được.” (xem T. Weinandy).
Sự việc này, không thể xảy ra mà lại không có lời mời gọi mọi người nơi nhân-loại-được-tái-tạo để sống thực cùng một nghĩa-lý sống như Thiên-Chúa và Đức Giêsu từng sống. Điều này, còn có nghĩa: nơi người phàm-trần lúc này, sự Công-minh/Chính-trực được “tác-tạo” là do niềm-tin, lòng hy-vọng và sự mến-mộ theo cách của thần-học, nhưng kết quả lại ra khác. Biểu-tượng đặc-trưng cho sự việc này, là: nhiệm-tích Nhập-thể và Phục-sinh, cả hai gộp lại đã biến-cải và làm mới hình-hài của thế-giới nơi ta sống.
Tính lô-gích vốn có ở mọi sự như thế, đã đưa ta về với lòng cảm-kích/biết ơn. Cảm-kích, đối với Chúa Đấng luôn hành-xử cách hào-phóng rất như thế. Biết ơn, cả sự Hào-phóng rất sống-động của Ngài. Cảm-kích/biết ơn luôn được biểu-lộ qua Đức Giêsu. Và cảm-kích như thế, đã có tầm-kích của sự “thờ-phượng”, nhưng không là thứ phượng-thờ bình-thường theo kiểu phụng-vụ vẫn diễn-đạt, mà là phụng-thờ tính Hào-Phóng đã ban và còn ban nhiều hơn nữa, nhờ Đức Giêsu. Động-thái cảm-kích/biết ơn, là sự thể qua đó mọi thọ-tạo lại đã dâng lời cảm-tạ lên Chúa, là Đấng nhất quyết không để cho lỗi/tội được dính-dự vào ý-định tái-lập công-cuộc tạo-dựng của Ngài. Đó, là ý-nghĩa đích-thực của Tiệc Thánh-Thể và là sự thể khiến ta cử-hành sự Hiện-diện đích-thực của Chúa, không sai sót.
Ta được mời gọi sống đích-thực sự Công-minh/Chính-trực mới với thế-giới lâu nay chưa biết sống. Và thế-giới, tuy vẫn nỗ-lực thực-sự, nhưng cũng chẳng tài nào hiểu được trọn vẹn sự việc này. Và như thế, lại có thêm tình-huống bức-bách/đối-chọi nhau giữa nhu-cầu sống thiết-thực và thế-giới rất thực-tiễn. Điều này, lại sẽ mang ý-nghĩa khổ-đau cho các thế-hệ khi trước, cũng nhiều hơn.
Trọng-trách chu-toàn sự Công-minh/Chính-trực của Chúa vẫn trải rộng với thế-giới, không phải để thăng-hoa xung-đột này, theo nghĩa có khuynh-hướng nghiêng về sự ổn-định từng cuộc thương-thảo hoặc có thoả-thuận để nó trường mặt ra bên ngoài, mà là chiến-đấu quyết diệt-trừ nó, theo cách Chúa từng làm với lỗi/tội có ngọn-nguồn. Điều đó có nghĩa là: cứ sử-dụng Sự Công-chính của Chúa như cơ-hội mới như thế, ta sẽ tham-gia dâng lời tạ-ơn cách tập-thể lên Chúa, vì Ngài Hào-phóng đối với ta. Và, ta làm thế theo cách vinh-thăng, rất đặc-biệt. Đây là những gì mang ý nghĩa “khấng chịu” mọi khổ đau, âu sầu, nghiệt-ngã. Nó còn có nghĩa: những ai thực-hiện cuộc sống giống như thế, đã và đang hiệp-nhất với những người từng chịu khổ-đau vì các hệ-thống sai trái, rất lỗi phạm của loài người. Nó còn có nghĩa như tiếp-tục hành-xử sao cho thích-hợp với người-của-Chúa trong tư-thế đặt mình trước mọi khổ-đau. Đau-khổ, đã trở-thành dịp-thuận để ta biến-cải và làm mới chất-lượng của hành-xử đáp-trả lại tính hào-phóng của Chúa.
Xem thế thì, ta không được mặc lấy tính thiêng-liêng của “thập-giá” hoặc “đau-khổ” giống như thế, nhưng lại có được tính linh-đạo của lòng cảm-kích chân-phương, luôn tin-tưởng rằng mình được tân-tạo, phục-hồi, mở rộng, không thoái lui. Tự bản-chất, khổ-đau không mang ý-nghĩa cứu-chuộc hoặc cứu-vớt được ai hết. Chèn-ép, thúc bách và sự việc đóng-đinh-thập-giá theo kiểu của người Do-thái thường làm, không có nghĩa đã có thể giải-phóng hoặc cứu-vớt được một ai. Nhưng, khổ-đau là hệ-quả mang tính ngẫu-nhiên, hoặc lịch-sử các xung-đột giá-trị nơi người hiểu-biết, đáp-ứng với tầm-kích giống Chúa nơi cuộc sống. Và, thế-giới lại đã tái-tạo được quyền-hạn của mình qua bạo-lực. Tử-vì-đạo, là chịu khổ-đau một cách chân-phương thật tình, nhưng theo cung-cách “không kiếm mà có”, “không tìm mà gặp.”
Ta thường bảo: mình được Đức Giêsu “làm thay cho mình” rất nhiều việc. Nói thế quả cũng không đúng. Bởi, đây không là hành-vi thay-thế hoặc “làm thay cho” như Thiên-Chúa, lẽ đáng ra, đã trừng-phạt Đức Giêsu thay vì hành-hạ ta. Đây là lối “nhận vơ”. Một thứ “nhận xằng” vào với ta, trong cuộc sống đầy lỗi phạm hiện giờ, qua việc mời ta vào với chốn vĩnh-hằng không bỏ được. Đức Giêsu, tự Ngài chẳng vi-phạm lỗi/tội nào, nhưng Ngài lại tham-gia cách trọn-vẹn vào với nhân-loại, ở nơi đó sự hiện-hữu đầy tội/lỗi là điều không thể tránh được. Chúa giáng-hạ làm người theo khuôn-mẫu như “một người trong các kẻ phạm lỗi”. Đó, là lý-do cho thấy: việc Ngài dâng tiến niềm hiệp-thông cảm-tạ lên Cha như hành-xử tiến-dâng của người mắc phải lỗi-phạm. Điều đó, khác với việc tế-hiến thú vật trong đền thờ, vì loài thú không biết cách tham-gia vào sự hiện-hữu của loài người nhiều lỗi phạm.
Thật ra, bảo rằng: khi ta gọi sự việc “làm thay cho ta” (như Stellvertretung) là bao gộp nhiều thứ chứ không chỉ loại-trừ bất cứ điều gì. Vì thế nên, ta có thể nói: Thiên-Chúa hiện diện nơi Đức Kitô, Đấng hoà-giải/hoà-hợp chính thế-giới đầy lỗi/tội hầu đưa họ về với Chúa. Việc hoà-giải sẽ không xảy đến, nếu như sự việc đó có xảy ra cũng chỉ để cho ai đó trong ta, mà thôi. Nói cách khác, nhờ mỗi mình Ngài, chứ không phải một ai, lại có thể làm thay cho ta, được.
Tất cả những ai lâu nay vi-phạm lỗi/tội, đều để mất đi sự vinh-quang của Thiên-Chúa. Vinh-quang này, bao gộp cả sự hiệp-thông gồm tóm ở trong đó. Thiên-Chúa công-khai thiết-lập nơi Đức Kitô, trọng-trách xót thương muôn loài và đặt Ngài như Đấng có Chúa hiện-diện là để ban cho ta “vị-thế đặc-biệt” hoặc “trọng-tâm rất đặc-trưng” để Ngài ban phát sự Hào-phóng chung-cuộc đã tái-lập. Nói thế có nghĩa: Ngài làm vậy, là đã biểu-lộ ra bên ngoài một loại-hình mới mẻ của sự “Công-minh/chính-trực” của Ngài. Điều này, ta nhận ra được qua niềm tin rất lạ, khả dĩ nắm bắt được sự cao đẹp nơi Quà tặng Ngài ban phát; ngõ hầu đáp-trả một cách rất cảm kích/biết ơn bằng cung-cách sống đích-thực quà tặng Chúa ban.
Sự việc như thế, đều xoay chuyển ngang qua nỗi chết mà Ngài chấp-nhận cho chính Ngài, qua đó Máu thánh Ngài đã đổ ra. Và, Thiên-Chúa thấy điều đó là cốt để thiết-lập và công-bố sự Công-chính rất mới này. Toàn-bộ sự việc như thế, còn có sự “vượt qua” các lỗi/tội có từ thời đầu và lỗi/tội như thế, nay không thành “vấn-đề” nữa. Sự việc xảy ra, tựa như Chúa từng đợi từng chờ theo cung-cách như mất kiên-nhẫn với thời-khắc đặc-trưng này. Và hệ-quả theo sau đó, chẳng dính-dự gì đến lỗi/tội mà con người mắc phạm vào thuở đầu đời cho đến khi nào chúng ta đối đầu với lỗi/tội, ra như thế.
Kết-quả là, nhóm hội/đội ngũ các kẻ tin vào quà tặng Chúa ban kết-hợp thành chốn thánh hoặc địa-điểm mới-mẻ nào khác. Ở nơi đó, “Ngai toà đầy xót thương” được thiết-dựng ngay ở bên trong và cùng với Đức Kitô (Rm 3: 25-26).
Ở đây, đã có sự hoà-hợp giữa hành-xử của Thiên-Chúa và Đức Giêsu-Con-Một-Ngài. Hoà-hợp đây, không có nghĩa: Ngôi Vị này tự đặt mình ở trên hoặc kình-chống Ngôi vị kia. Thế nênb, nền thần-học về “đền bù tội lỗi” do hành-động tử-vì-đạo không còn thích-đáng nữa. Nói cách khác, đây không là động-thái của sự việc mà tiếng La-tinh không gọi như “do ut des”, cho bằng “do quia dedisti”.
------------------ (còn tiếp)
Lm Kevin O’Shea, CSsR - Mai Tá lược dịch
(bài 20)
“Cơ-cấu thiết-lập mọi thực-tại, thật ra là lòng xót thương hết mọi sự”. (Noel Rowe)
“Ân-huệ, giống như người nữ đẹp-xinh tạo âm-nhạc ở bất cứ nơi nào Chị đặt chân đến. Ân-huệ mang trong mình, chỉ một hạt ngọc đơn-thuần, nhưng khi Chị đã đi vào toàn-bộ thế-giới hiện-thực ở mọi nơi, và khi Chị chấp-thuận hết mọi sự theo cách-thức không đòi điều-kiện, thì Chị đã có thể chữa lành và tha thứ hết, mà không cần nghĩ-suy. Ân-huệ chấp-nhận mọi sự, chỉ như thế cũng có khả-năng loại-trừ mọi món nợ và ân-cần phụ-đỡ hết mọi thứ khiến ta xấu hổ. Ân-huệ mang trong người, thứ “nghiệp-căn” mâu-thuẫn, hầu đem đến cho ta những gì ta đáng được hưởng. Nhưng, chẳng khi nào ta hưởng được những gì mình xứng-đáng từ Ân-huệ, ngoại trừ sự lặng-thinh. Và, Ân-huệ đã ngưng không nói chuyện khi gần gũi ta. Ân-huệ vẫn ra đi tìm đến hết mọi thứ, để tác-tạo vẻ đẹp của mình ở nơi nào Chị đặt chân đến.” (Ben Witherington iii)
Ơn Cứu-Chuộc, là nhiệm-tích rất đáng yêu. Là, những gì bí-ẩn của Tình Thương-yêu cao cả gồm có sự Công-chính nữa. Đây, là thứ bí-nhiệm của Công-chính không tục-phàm, với ta.
Nếu có ai hỏi:
“Tình thương-yêu thật ra có nghĩa gì?”
“Sự Công-chính từ đâu đến?”
thì câu trả lời, hẳn sẽ bao-gồm cả tình Thương-yêu thần-thánh, tức: sự Công-chính thánh-thiêng của Thiên-Chúa. Thành thử, ta nên dừng lại một chút, trước khi đặt mình vào với dữ-kiện của Kinh Sách và Thánh-truyền, để rồi sẽ suy thêm về Chúa với câu hỏi đặt ra từ bao giờ:
“Thiên-Chúa, Ngài là Đấng nào?”
“Ngài yêu-thương ta đến mức độ nào?”
“Ngài có công-bằng chính-trực đích-thực không?”
Vấn-đề đây, lại đề ra một số phương-án để ta theo, tức: những phương-án tương-tự như ở Kinh-Thánh, tâm-lý-học và kinh-tế/tài chánh của nhiều người.
Phần 1:
Ơn Cứu-Chuộc
và phương-án ở Kinh-Thánh
Trước hết, tôi muốn tạo dịp để anh em mình bàn về Kinh-thánh trước hết. Bởi, Kinh-thánh luôn đính-kèm một công-trình luận-giải cũng rất mới về sự Công-minh/chính-trực của Chúa, theo cách mà người Đức vẫn làm. Ở đây, tôi chú-tâm đến lập-trường của tác-giả Hartmut Gese, thuộc trường-phái Tubingen. Lập-trường ông đề-xuất, đã mở ra một số tư-tưởng bàn về chất-lượng của lòng xót thương, vô bến bờ.
Ở đây nữa, tôi lại sẽ ghi thêm lối diễn-giải cũng khá mới được một giáo-sĩ người Pháp thuộc Dòng Đa-Minh, đó là: Lm Christian Duquoc, tỉnh dòng Lyons, đưa ra. Và, ở tông-thư “Thiên-Chúa Là Tình-yêu”, Đức Bênêđíchtô 16 cũng đưa ra lề-lối hiểu-biết về tình Thương-yêu thần-thánh, tức: tình Yêu-thương đích-thực mà người Hy Lạp gọi là “Eros” chứ không chỉ là tình thân-thương mến-mộ vẫn được định-danh là Agapè bên tiếng Hy-Lạp, vốn đem đến cho ta lý-lẽ cần-thiết hầu hội-nhập vào sự Công-minh thần-thánh có thương-yêu đích-thực.
Cung-cách diễn-giải
của người Đức
theo trường-phái Tubingen
Cũng nên xem thêm tác-giả Richard Bell, Sacrifice and Christology in Paul, Journal of Theological Studies (Oxford), 2002, April, tr. 1-27. Bài viết này sử-dụng một số nghiên-cứu rút từ trường-phái Tubingen, cách đây không lâu. Bài viết, tiếp theo diễn-luận của Hartmut Gese trong “Die Suhne”, Zur biblischen Theologie, Tubingen, 1977 (1989).
ET K. Crim Atonement, Essays in biblical theology, Augsburg 1981. Ngoài hai tác-giả này ra, cũng trong chiều hướng tương-tự, còn có cả Janowski, Stuhlmache, Hofius nữa.
Quan-điểm mà quý vị đây đưa ra, lại mang ý-niệm về sự công-chính vốn duy-trì quan-hệ giữa Thiên-Chúa và loài người; nhưng đúng thực lại là: giữa Đức Giêsu và dân con từng phạm lỗi ở trong Đạo. Thật ra thì, đây không là sự công-minh/chính-trực theo kiểu người phàm, như ta hiểu.
Từ nơi đây, ta cần nhận-chân ra rằng: Thiên-Chúa, với tư-cách là Chúa, Ngài chẳng cần sự gì hết. Nhận-định này, đã kéo theo hệ-quả là: không gì khả dĩ thúc-ép từ bên trong hoặc đè nặng lên Chúa, để Ngài làm bất cứ điều gì đặc-biệt, hòng cứu-chuộc ta ra khỏi trạng-huống những lỗi và tội. Chúa có tự-do làm bất cứ thứ gì Ngài muốn, như tạo-dựng hoặc cứu-chuộc mọi sự. Ngài hành-xử theo cách rất “hào-phóng”. Hào-phóng đây, có nghĩa: tạo lợi-ích cho mọi người. Hào-phóng -ngay chính từ-vựng này từng diễn-tả- đã liên-kết mọi sự tốt-lành mà bên tiếng La-tinh, thiên-hạ có thói quen gọi đó là “Bonitas”, tức: Sự Tốt-lành của Chúa, ở tầm-kích rất siêu-phàm.
Bản-chất của Chúa, lại có nghĩa: Ngài rất “tốt lành và siêu-việt”, nên từ phần thâm-sâu của từ-vựng, tính “hào-phóng” của Chúa, ta không thể cắt-nghĩa bằng ngôn-từ mà người phàm thường sử-dụng được. Bởi, đó là bí-nhiệm của Chúa và về Chúa. Là, thứ gì đó mà loài người, thật ra, không thể nắm bắt được điều gì thuộc về Chúa.
Từ-vựng “hào-phóng” -dù là ngôn-từ thuần-tuý của con người- vẫn có thể nối-kết với các dự-phóng đưa về phía trước, hầu đưa ta đến được với nó. Thành ra, ta bảo là: Chúa tự đặt Ngài vào vị-thế đầy hào-phóng, tức Ngài khấng-mang điều gì đó ngay nơi bản-chất của Ngài, để Ngài hành-xử một cách hào-phóng, tốt lành. Thiên-Chúa nối-kết một cách công-minh với chính Ngài, để mọi sự được ra như thế. Điều đó, ta gọi là sự Công-chính, tức bản-chất rất công-minh của Đức Chúa. Bởi, theo nghĩa thâm-sâu nơi bản-chất Ngài, Chúa có khuynh-hướng làm thế, nên sở dĩ Ngài mang tính hào-phóng là do bởi chính sự hào-phóng của Ngài, mà ra. Ở đây, tiếng La-tinh thường diễn-tả rất rõ bằng thành-ngữ “bonum diffusivum suis”, tức: từ-vựng mang cùng một ý-niệm.
Lỗi/tội con người phàm, không thể cất đi đặc-trưng này của Chúa, được. Tính hào-phóng của Ngài không hề giảm-suy, cho dù con người có dính-dự vào đó. Và, đó không là những gì mà lỗi/tội của con người, lại có khả-năng làm mất tính hào phóng ấy được. Đúng ra, tội hoặc lỗi chỉ khiến cho con người càng xa-cách/tách rời khỏi kế-hoạch của Chúa từ thuở đầu, mà thôi. Và, động-tác ban đầu của Chúa, có nghĩa là: Ngài phú-ban chính mình Ngài một cách hào-phóng cho mọi thọ-tạo được thụ-hưởng. Lỗi/tội, là sự thể khiến ta để luột mất tính hào-phóng mà Ngài vẫn ban.
Nhưng, khi lỗi/tội xuất đầu lộ diện, thì đó là lúc Chúa hành-xử một cách có tự-do theo bản-chất của Ngài. Và, Ngài từ-khước không để cho lỗi/tội được phép can-dự vào kế-hoạch ban đầu đầy hào-phóng của Ngài, bao giờ hết. Đây là lý-do tại sao Chúa lại khước-từ không giữ các lỗi/tội xuất từ con người đầy lầm lẫn. Thay vào đó, do bởi đặc-trưng và nguyên-lý về tính hào-phóng cũng như sự Công-minh của Ngài, Chúa sử-dụng lỗi/tội của người phàm như cơ-hội để Ngài tỏ-lộ sự hào-phóng của Ngài nhiều hơn nữa, theo cung-cách tốt-lành hơn, để ta có được khả-năng tiếp-tục được hào-phóng/siêu-thăng hầu nới rộng bản-chất ấy.
Thiên-Chúa tiếp-tục ban-phát quà tặng ban đầu của Ngài. Và, Ngài vẫn liên-tục tặng ban như thế mãi, suốt thiên-thu. Đây, lại là sự việc tái-lập động-tác ban đầu với tổ-tông loài người, hầu cải-biến nó để con người nhận ra nét siêu-thăng tuyệt-vời bằng vào sử-dụng cơ-hội mới này một cách đầy hào-phóng. Theo cách này, Thiên-Chúa khiến con người vốn từng phạm lỗi rất “tày trời”, được phép trở về với cội-nguồn tạo-dựng thành người. Thiên-Chúa trở về với động-tác thương-yêu thần-thánh có từ đầu. Ngài làm thế, theo đặc-trưng Công-minh/chính-trực của Ngài và với Ngài.
Nay, ta được phép gọi sự Công-minh/chính-trực của Chúa là sự tái-tạo Công-chính, và tái-tục tạo-dựng cho nên mới. Công-chính đây, là nguyên-lý của sự hiệp-nhất và cũng là sự hợp-lực và kết-hiệp với loài người đã được Ngài cứu-chuộc. Theo tôi, đây cũng là lý-do cho thấy tại sao ta có được vị-thế chính-thức ở với Chúa, trong đó có hoà-trộn giữa sự Công-chính và lòng Xót thương của Ngài. Xót thương, không là lòng trắc-ẩn khả dĩ khiến Chúa mủi lòng, để “ai đó thoát khỏi vòng cương-toả ràng-buộc cũng rất gắt gao” đòi sự Công-minh thần-thánh, cách trọn vẹn.
Nhưng, đây là thứ ngôn-từ khác-biệt nói lên loại-hình thật rất khác về sự Công-minh/chính-trực, khiến Chúa có khuynh-hướng thiên về tính hào-phóng của Ngài hơn. Nơi con người, chưa từng có ví-dụ cụ-thể nào Khả dĩ chứng-tỏ sự công-minh/chính-trực ngang-đồng tầm-mức của họ. Bởi thế nên, thật khó tìm ra ngôn-từ nào thích-hợp hầu diễn-tả sự Công-minh theo tầm-kích của Chúa, dù ta có cố gắng.
Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có ai tìm được những gì tự hồ như thế. Bởi, Thiên-Chúa dự-trù cho phép con người được tham-dự vào sự hiệp-thông trọn-vẹn với Ngài, nên Ngài chọn kiến-tạo cung-cách mới, để con người có được sự hiệp-thông liên-kết này. Đây, chính là ý-nghĩa và là chủ-đích của công-cuộc tạo-dựng. Và, nơi nhân-tính của Ngài, Đức Giêsu đã thể-hiện rõ ý-định của Chúa Cha về sự Công-minh/chính-trực và lòng Xót thương hoà-trộn vào với nhau thành một. Và, do bởi Chúa có nhân-tính làm Con-Thiên-Chúa, nên toàn-thể nhân-loại không ai có khả-năng rút ra khỏi sự hiệp-thông trọn-vẹn với Chúa, là Đấng yêu-thương con người, đến muôn đời.
Nơi bản-chất rất “người” của Đức Giêsu, tất cả được “duy trì làm một với nhau”, mãi về sau. Và mạch tương-quan nối liền Đức Giêsu với Thiên-Chúa-là-Cha, chính là sự Công-minh/Chính-trực của Ngài. Cả Chúa Cha và Con-Một-Ngài, đều hướng về tính hào-phóng cùng một kiểu như thế.
Quả thật, Đức Giêsu đã đích-thực sống như Đấng Bào-chữa cho sự Công-chính của Thiên-Chúa. Nhưng, không dựa vào sự kiên-quyết ngay từ đầu, mà ít ra là, bằng vào sự Công-chính của Chúa theo cách “trải rộng ra bên ngoài” mà người bình-thường có thể hiểu được. Đúng ra, sự Công-chính của Chúa mang đầy tính “công-minh/hào-phóng” với con người.
Đằng khác, Đức Giêsu luôn sống thực nguyên-lý hiệp-thông tham-gia vào tính hào-phóng tác-tạo của Thiên-Chúa. Kết-quả là, nơi thế-gian trong đó Đức Giêsu từng sống thực, lại kình-chống nguyên-lý này, nên mới xa rời Ngài cách đáng tiếc. Thành thử, đây cũng là lý-do cho thấy tại sao thế-gian lại quyết-tâm trừ-khử Ngài ra khỏi vòng quay cuộc sống. Tuy thế, Ngài vẫn xuyên-suốt đi ngang qua nỗi chết, hầu tháp-nhập vào sự sống vĩnh-hằng, rất Phục-sinh. Điều này lại có nghĩa: thế-gian không làm gì được Ngài, nên những muốn ngưng-trệ việc thể-hiện tính hào-phóng của Thiên-Chúa-là-Cha, qua Ngài. Điều này còn có nghĩa: sự việc nhân-loại hiệp-thông tham-gia với Chúa và trong Chúa, sẽ kéo dài mãi đến thiên thu. Và, chính thế-gian, dù bản-chất của họ có thế nào đi nữa, nhưng nhờ vào sự trỗi-dậy/Phục-sinh của Đức Giêsu, họ được minh-xác ngay trong sự biến-cải/đổi-hình của chính mình.
Ở đây nữa, lại đã có lập-trường/quan-điểm của ai đó cứ cho rằng: toàn-bộ dự-án tiêu-cực của con người đều gẫy đổ, may nhờ Đức Giêsu kịp đến hiện-diện ngay lúc đó, tức: đúng vào thời-điểm của Thứ Bẩy Phục Sinh, để Ngài nhập vào với vũ-trụ vạn vật. Ở nơi đây, Đức Giêsu cũng tự hiến mình Ngài như Đấng Thiên-Sai chấp-nhận toàn-bộ tính tiêu-cực này. Có điều lạ, là: Ngài lại đã trở-thành Đấng nhận-lãnh thứ “bình-an hào phóng” của vũ-trụ không gẫy đổ, vào rạng sáng khi Vương-Quốc Phục-Sinh vừa ló dạng. Ngài xứng-hợp điều này, là do Ngài tự-do mở rộng tính hào-phóng khiến Ngài biểu-tỏ qua cái chết khổ-nhục trên thập-tự. Theo cách này thì, nếu muốn, ta có thể sử-dụng từ-vựng “Cứu-chuộc”, cũng được.” (xem T. Weinandy).
Sự việc này, không thể xảy ra mà lại không có lời mời gọi mọi người nơi nhân-loại-được-tái-tạo để sống thực cùng một nghĩa-lý sống như Thiên-Chúa và Đức Giêsu từng sống. Điều này, còn có nghĩa: nơi người phàm-trần lúc này, sự Công-minh/Chính-trực được “tác-tạo” là do niềm-tin, lòng hy-vọng và sự mến-mộ theo cách của thần-học, nhưng kết quả lại ra khác. Biểu-tượng đặc-trưng cho sự việc này, là: nhiệm-tích Nhập-thể và Phục-sinh, cả hai gộp lại đã biến-cải và làm mới hình-hài của thế-giới nơi ta sống.
Tính lô-gích vốn có ở mọi sự như thế, đã đưa ta về với lòng cảm-kích/biết ơn. Cảm-kích, đối với Chúa Đấng luôn hành-xử cách hào-phóng rất như thế. Biết ơn, cả sự Hào-phóng rất sống-động của Ngài. Cảm-kích/biết ơn luôn được biểu-lộ qua Đức Giêsu. Và cảm-kích như thế, đã có tầm-kích của sự “thờ-phượng”, nhưng không là thứ phượng-thờ bình-thường theo kiểu phụng-vụ vẫn diễn-đạt, mà là phụng-thờ tính Hào-Phóng đã ban và còn ban nhiều hơn nữa, nhờ Đức Giêsu. Động-thái cảm-kích/biết ơn, là sự thể qua đó mọi thọ-tạo lại đã dâng lời cảm-tạ lên Chúa, là Đấng nhất quyết không để cho lỗi/tội được dính-dự vào ý-định tái-lập công-cuộc tạo-dựng của Ngài. Đó, là ý-nghĩa đích-thực của Tiệc Thánh-Thể và là sự thể khiến ta cử-hành sự Hiện-diện đích-thực của Chúa, không sai sót.
Ta được mời gọi sống đích-thực sự Công-minh/Chính-trực mới với thế-giới lâu nay chưa biết sống. Và thế-giới, tuy vẫn nỗ-lực thực-sự, nhưng cũng chẳng tài nào hiểu được trọn vẹn sự việc này. Và như thế, lại có thêm tình-huống bức-bách/đối-chọi nhau giữa nhu-cầu sống thiết-thực và thế-giới rất thực-tiễn. Điều này, lại sẽ mang ý-nghĩa khổ-đau cho các thế-hệ khi trước, cũng nhiều hơn.
Trọng-trách chu-toàn sự Công-minh/Chính-trực của Chúa vẫn trải rộng với thế-giới, không phải để thăng-hoa xung-đột này, theo nghĩa có khuynh-hướng nghiêng về sự ổn-định từng cuộc thương-thảo hoặc có thoả-thuận để nó trường mặt ra bên ngoài, mà là chiến-đấu quyết diệt-trừ nó, theo cách Chúa từng làm với lỗi/tội có ngọn-nguồn. Điều đó có nghĩa là: cứ sử-dụng Sự Công-chính của Chúa như cơ-hội mới như thế, ta sẽ tham-gia dâng lời tạ-ơn cách tập-thể lên Chúa, vì Ngài Hào-phóng đối với ta. Và, ta làm thế theo cách vinh-thăng, rất đặc-biệt. Đây là những gì mang ý nghĩa “khấng chịu” mọi khổ đau, âu sầu, nghiệt-ngã. Nó còn có nghĩa: những ai thực-hiện cuộc sống giống như thế, đã và đang hiệp-nhất với những người từng chịu khổ-đau vì các hệ-thống sai trái, rất lỗi phạm của loài người. Nó còn có nghĩa như tiếp-tục hành-xử sao cho thích-hợp với người-của-Chúa trong tư-thế đặt mình trước mọi khổ-đau. Đau-khổ, đã trở-thành dịp-thuận để ta biến-cải và làm mới chất-lượng của hành-xử đáp-trả lại tính hào-phóng của Chúa.
Xem thế thì, ta không được mặc lấy tính thiêng-liêng của “thập-giá” hoặc “đau-khổ” giống như thế, nhưng lại có được tính linh-đạo của lòng cảm-kích chân-phương, luôn tin-tưởng rằng mình được tân-tạo, phục-hồi, mở rộng, không thoái lui. Tự bản-chất, khổ-đau không mang ý-nghĩa cứu-chuộc hoặc cứu-vớt được ai hết. Chèn-ép, thúc bách và sự việc đóng-đinh-thập-giá theo kiểu của người Do-thái thường làm, không có nghĩa đã có thể giải-phóng hoặc cứu-vớt được một ai. Nhưng, khổ-đau là hệ-quả mang tính ngẫu-nhiên, hoặc lịch-sử các xung-đột giá-trị nơi người hiểu-biết, đáp-ứng với tầm-kích giống Chúa nơi cuộc sống. Và, thế-giới lại đã tái-tạo được quyền-hạn của mình qua bạo-lực. Tử-vì-đạo, là chịu khổ-đau một cách chân-phương thật tình, nhưng theo cung-cách “không kiếm mà có”, “không tìm mà gặp.”
Ta thường bảo: mình được Đức Giêsu “làm thay cho mình” rất nhiều việc. Nói thế quả cũng không đúng. Bởi, đây không là hành-vi thay-thế hoặc “làm thay cho” như Thiên-Chúa, lẽ đáng ra, đã trừng-phạt Đức Giêsu thay vì hành-hạ ta. Đây là lối “nhận vơ”. Một thứ “nhận xằng” vào với ta, trong cuộc sống đầy lỗi phạm hiện giờ, qua việc mời ta vào với chốn vĩnh-hằng không bỏ được. Đức Giêsu, tự Ngài chẳng vi-phạm lỗi/tội nào, nhưng Ngài lại tham-gia cách trọn-vẹn vào với nhân-loại, ở nơi đó sự hiện-hữu đầy tội/lỗi là điều không thể tránh được. Chúa giáng-hạ làm người theo khuôn-mẫu như “một người trong các kẻ phạm lỗi”. Đó, là lý-do cho thấy: việc Ngài dâng tiến niềm hiệp-thông cảm-tạ lên Cha như hành-xử tiến-dâng của người mắc phải lỗi-phạm. Điều đó, khác với việc tế-hiến thú vật trong đền thờ, vì loài thú không biết cách tham-gia vào sự hiện-hữu của loài người nhiều lỗi phạm.
Thật ra, bảo rằng: khi ta gọi sự việc “làm thay cho ta” (như Stellvertretung) là bao gộp nhiều thứ chứ không chỉ loại-trừ bất cứ điều gì. Vì thế nên, ta có thể nói: Thiên-Chúa hiện diện nơi Đức Kitô, Đấng hoà-giải/hoà-hợp chính thế-giới đầy lỗi/tội hầu đưa họ về với Chúa. Việc hoà-giải sẽ không xảy đến, nếu như sự việc đó có xảy ra cũng chỉ để cho ai đó trong ta, mà thôi. Nói cách khác, nhờ mỗi mình Ngài, chứ không phải một ai, lại có thể làm thay cho ta, được.
Tất cả những ai lâu nay vi-phạm lỗi/tội, đều để mất đi sự vinh-quang của Thiên-Chúa. Vinh-quang này, bao gộp cả sự hiệp-thông gồm tóm ở trong đó. Thiên-Chúa công-khai thiết-lập nơi Đức Kitô, trọng-trách xót thương muôn loài và đặt Ngài như Đấng có Chúa hiện-diện là để ban cho ta “vị-thế đặc-biệt” hoặc “trọng-tâm rất đặc-trưng” để Ngài ban phát sự Hào-phóng chung-cuộc đã tái-lập. Nói thế có nghĩa: Ngài làm vậy, là đã biểu-lộ ra bên ngoài một loại-hình mới mẻ của sự “Công-minh/chính-trực” của Ngài. Điều này, ta nhận ra được qua niềm tin rất lạ, khả dĩ nắm bắt được sự cao đẹp nơi Quà tặng Ngài ban phát; ngõ hầu đáp-trả một cách rất cảm kích/biết ơn bằng cung-cách sống đích-thực quà tặng Chúa ban.
Sự việc như thế, đều xoay chuyển ngang qua nỗi chết mà Ngài chấp-nhận cho chính Ngài, qua đó Máu thánh Ngài đã đổ ra. Và, Thiên-Chúa thấy điều đó là cốt để thiết-lập và công-bố sự Công-chính rất mới này. Toàn-bộ sự việc như thế, còn có sự “vượt qua” các lỗi/tội có từ thời đầu và lỗi/tội như thế, nay không thành “vấn-đề” nữa. Sự việc xảy ra, tựa như Chúa từng đợi từng chờ theo cung-cách như mất kiên-nhẫn với thời-khắc đặc-trưng này. Và hệ-quả theo sau đó, chẳng dính-dự gì đến lỗi/tội mà con người mắc phạm vào thuở đầu đời cho đến khi nào chúng ta đối đầu với lỗi/tội, ra như thế.
Kết-quả là, nhóm hội/đội ngũ các kẻ tin vào quà tặng Chúa ban kết-hợp thành chốn thánh hoặc địa-điểm mới-mẻ nào khác. Ở nơi đó, “Ngai toà đầy xót thương” được thiết-dựng ngay ở bên trong và cùng với Đức Kitô (Rm 3: 25-26).
Ở đây, đã có sự hoà-hợp giữa hành-xử của Thiên-Chúa và Đức Giêsu-Con-Một-Ngài. Hoà-hợp đây, không có nghĩa: Ngôi Vị này tự đặt mình ở trên hoặc kình-chống Ngôi vị kia. Thế nênb, nền thần-học về “đền bù tội lỗi” do hành-động tử-vì-đạo không còn thích-đáng nữa. Nói cách khác, đây không là động-thái của sự việc mà tiếng La-tinh không gọi như “do ut des”, cho bằng “do quia dedisti”.
------------------ (còn tiếp)
Lm Kevin O’Shea, CSsR - Mai Tá lược dịch
Suy tư Tin Mừng đọc trong tuần sau lễ Thánh Phêrô & Paolô năm A 29.6.2014
Mai Tá
14:30 21/06/2014
Suy tư Tin Mừng đọc trong tuần sau lễ Thánh Phêrô & Paolô năm A 29.6.2014
“Ca những điệu ngọc vàng, cao sang sảng,”
“Lời văng xa, truyền nhiễm đến vô song.”
(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)
Mt 16: 13-19
Điệu ngọc vàng, nhà thơ đã ca lên, vẫn vang rền những điều truyền nhiễm đến vô song, đầy huyền-nhiệm. Giọng trân-châu, nhà Đạo còn hát mãi đi vào hạo-nhiên lồng-lộng Nước trời, nhiều phấn-kích.
Bài đọc ngày lễ kính thánh Phêrô và Phaolô, tập-trung tiếng hát vô song, huyền-nhiệm có Đức Chúa ở cùng, nhiều ân-sủng. Ân-sủng Chúa ban, đã giúp đỡ các ngài trở-thành đấng thánh trụ-cột duy-trì thánh Hội, rất nhiều thời.
Thánh Phêrô và Phaolô đều có điểm đặc biệt: vừa giống nhau lại vừa khác-biệt, rất chân-chất. Hai thánh giống nhau ở điểm: cả hai đều là người Do-thái nhiệt-thành, xuất chúng. Trong khi thánh Phêrô, xuất thân từ làng chài bình dị ở Galilê, học hành không nhiều nhưng cung-cách rất riêng tư, khi hành-xử. Còn thánh Phaolô, là vị thánh có quốc-tịch Rôma, từng xuất thân từ trường lớp rất La Mã, nhưng thuộc thế-giới Do-thái hạnh-đạo.
Thánh Phêrô từng dẫn dắt những người theo Chúa Giêsu, nên biết Ngài rất rõ. Còn thánh Phaolô chỉ gặp gỡ Ngài trong thoáng chốc trên đường đi Đa-mát nhưng lại thông-hiểu Chúa Sống lại, hơn ai hết. Thánh Phêrô là con người bồng-bột, giản-dị phạm nhiều sai sót. Trong khi thánh Phaolô thì tính-khí phức-tạp, không dễ gì làm hoà được với nhiều người.
Do có khác-biệt về tính-khí, nên hai thánh đã hiểu lầm, xung-đột và bất đồng chánh-kiến, rất nhiều lần. Tuy thế, các ngài vẫn luôn gắn bó tình mến-thương cùng một Thày Chí Thánh cả vào khi chấp-nhận cái chết cho lòng Đạo Thày răn dạy. Điểm son ấy, lại cũng xuất từ tính giản-đơn và kết-hiệp nơi Đức Kitô, Đấng thiếu vắng tính cao-siêu, phức-tạp. Nét đẹp sáng-tạo là do sự bất-đồng nhưng lại hài-hoà từ sự khác-biệt của các yếu-tố tạo-thành.
Gương lành dị-biệt giữa tín-hữu thời tiên-khởi và đặc biệt giữa thánh Phêrô và Phaolô là lời mời gọi Hội-thánh cũng như mỗi người trong ta hãy tôn-trọng sự đa-dạng nơi lập-trường/quan-điểm, sức bén nhạy và phong-phú nơi nét đặc sắc khác-biệt ấy.
Bài đọc 1, sách Công Vụ cho thấy bầu khí vui tươi ban đầu khi thánh Phêrô sử-dụng quyền-bính với đồ-đệ và người theo Chúa, sau ngày Ngài khuất vãn. Cộng-đoàn khi ấy đều đã kết-hiệp nguyện-cầu ở phòng kín, có cửa đóng then cài. Lúc ấy, duy chỉ mỗi thánh Phêrô vắng mặt vì bị giam-giữ. Nhưng rồi, thánh-nhân thoát ngục cách lạ kỳ như chuyện trinh-thám. Ra tù, là chuyện dễ. Nhưng vào với cộng-đoàn Hội-thánh lại không thế. Bởi, thánh Phêrô là loại người có cung-cách diệu-kỳ luôn thu hút mọi người cả những chuyện không đâu lẫn việc đón-nhận ân-huệ mới, giống con trẻ.
Bài đọc 2, diễn-lộ đoạn cuối công-trình hoạt-động của thánh Phaolô, khi ấy xem chừng cũng đã mỏi mệt, già đi với mộng ước thường có, tính-khí cũng phức-tạp bởi cứ than-phiền là mọi người như thánh Máccô và Barnaba hằng lánh thân để thánh-nhân lại một mình, trơ trọi. Nhưng niềm tin ngài có vào Đức Kitô vẫn không hề chuyển lay và thánh-nhân cũng duy-trì niềm tin sắt-son cho đến chết như thánh Phêrô.
Trình thuật thánh Mát-thêu đưa ta về lại với lời tuyên-tín của thánh Phêrô và sứ-vụ Chúa giao trong đó có trọng trách dẫn dắt thánh hội. Lời thánh Phêrô tuyên xưng là câu đáp-trả khi Đức Giêsu hỏi mãi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?" một câu hỏi đượm tính mật-thiết đặt nặng lên từ-vựng “bảo”. Bảo đây, tức nói lên niềm-tin vào Thày mình là “Đức Kitô, Con Thiên-Chúa hằng sống.”
Niềm tin, thật ra không chỉ là động-thái nội tại nơi tâm can, cũng không chỉ là nhận-định mang tính thiêng-liêng, tinh thần. Nhưng vẫn cần nói ra bằng lời nói cũng như hành-động. Bằng ngôn-ngữ riêng-tư, bình dị, của chính ngài thánh Phêrô tuyên-xưng thiên-tính của Đức Giêsu, Thày mình.
Điều đó có nghĩa: Thày chính là Đấng Thiên-Sai. Là, Con Một của Thiên Chúa hằng sống. Và về sau, thánh-nhân còn tuyên-tín như thế cũng rất dài bằng những tháng ngày cuộc sống dẫn đến cả nỗi chết, cũng vì Thày. Tất cả, đều là sự nối dài, nới rộng của lời tuyên-tín rất đáng tin được thánh-nhân phát nên lời.
Hệt như thế, thánh Hội là cộng-đoàn gồm những người, những vị từng lĩnh-nhận thông-điệp về Đức Kitô nơi lời lẽ rất đáng tin của thánh Phêrô. Lời lẽ ấy, là cung-cách khiến thánh cả tuyên-xưng Thày mình đích-thị là Ai, Đấng nào.
Mỗi người chúng ta, là thành-viên cũng như cơ-phận của thánh Hội do Thày Giêsu đặt để, cũng phải biết đáp trả câu hỏi của Đức Giêsu Thày Chí Ái như thánh Phêrô từng làm. Nói bằng lời, là cung-cách giúp ta khẳng-định được niềm tin mình vẫn có xưa nay. Nói bằng lời hay hành-động, còn là chuyển-dịch những lời lẽ ấy vào cuộc sống biết phục-vụ người khác. Là, chuyển-ngữ Lời Chúa thành sự việc rất hiện-thực, trong đời mình.
Hôm nay đây, hai cột-trụ của thánh hội là thánh Phêrô, đại diện cho 12 vị đồ-đệ được Đức Giêsu mời gọi vào thời ấy, và cột-trụ kia là thánh Phaolô là đấng bậc đầu tiên đến với Chúa cũng khá trễ nhưng được gọi để trở thành nhân-chứng cho những gì Đức Giêsu từng làm.
Giống như hai thánh cả là cột-trụ của Hội thánh, mọi người chúng ta cũng được mời gọi ra đi tuyên-xưng và rao truyền Tin Mừng bằng cách sống thực Lời Lẽ của Ngài. Ra đi loan báo Tin Vui cho mọi người, bằng cung-cách sống-thực điều mình rao báo.
Nhưng, như thế vẫn chưa đủ. Ta còn được mời gọi rao truyền bằng lời lẽ, tuyên-xưng niềm tin mỗi ngày và mọi ngày trong đời mình ngang qua phụng-vụ và lời nguyện cầu, dâng lên Chúa. Ta làm nhiều hơn thế trong lời ca chúc tụng ngợi khen, ngang qua Đức Giêsu Kitô Con Một Thiên Chúa, là Chúa chúng ta. Nhiều vị, lại cũng được kêu mời bằng lời rao giảng, hoặc diễn-giải Lời của Chúa, rất hăng say.
Làm cách nào cũng là làm, nhưng điều quan-trọng là nối-kết lời lẽ mình diễn-giải hoặc rao truyền vào với cuộc sống đích-thực hằng ngày. Và, vào với hy-vọng rằng Đức Giêsu sẽ đáp-trả lời ta tuyên-xưng Ngài bằng cách cũng tuyên-dương cảm kích mối thịnh-tình của ta trước Thiên-Chúa-là-Cha Ngài.
Trong tinh-thần phấn-kích quyết tuyên-xưng, ta lại về với lời thơ những ngâm rằng:
“Ca những điệu ngọc vàng cao sang sảng,
Lời văng xa truyền nhiễm đến vô song.
Bầu hạo-nhiên lồng lộng một màu trong,
Không rung động bởi tơ huyền náo nức.”
(Hàn Mặc Tử - Ngoài Vũ Trụ)
Ca vang điệu ngọc cao sang sảng, lại cũng là và mãi mãi là tuyên-xưng niềm tin ta có với Chúa không chỉ bằng lời mà thôi. Nhưng, bằng cả cuộc đời hăng say, cảm-kích rất phấn-chấn được làm con và là đồ đệ của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống, rất như thế. Mãi một đời.
Viện phụ Armand Vielleux, OCSO (Scourmont, Bỉ) trước tác.
Mai Tá lược dịch bản tiếng Anh
do Lm Kevin O’Shea CSsR dịch từ tiếng Pháp.
“Ca những điệu ngọc vàng, cao sang sảng,”
“Lời văng xa, truyền nhiễm đến vô song.”
(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)
Mt 16: 13-19
Điệu ngọc vàng, nhà thơ đã ca lên, vẫn vang rền những điều truyền nhiễm đến vô song, đầy huyền-nhiệm. Giọng trân-châu, nhà Đạo còn hát mãi đi vào hạo-nhiên lồng-lộng Nước trời, nhiều phấn-kích.
Bài đọc ngày lễ kính thánh Phêrô và Phaolô, tập-trung tiếng hát vô song, huyền-nhiệm có Đức Chúa ở cùng, nhiều ân-sủng. Ân-sủng Chúa ban, đã giúp đỡ các ngài trở-thành đấng thánh trụ-cột duy-trì thánh Hội, rất nhiều thời.
Thánh Phêrô và Phaolô đều có điểm đặc biệt: vừa giống nhau lại vừa khác-biệt, rất chân-chất. Hai thánh giống nhau ở điểm: cả hai đều là người Do-thái nhiệt-thành, xuất chúng. Trong khi thánh Phêrô, xuất thân từ làng chài bình dị ở Galilê, học hành không nhiều nhưng cung-cách rất riêng tư, khi hành-xử. Còn thánh Phaolô, là vị thánh có quốc-tịch Rôma, từng xuất thân từ trường lớp rất La Mã, nhưng thuộc thế-giới Do-thái hạnh-đạo.
Thánh Phêrô từng dẫn dắt những người theo Chúa Giêsu, nên biết Ngài rất rõ. Còn thánh Phaolô chỉ gặp gỡ Ngài trong thoáng chốc trên đường đi Đa-mát nhưng lại thông-hiểu Chúa Sống lại, hơn ai hết. Thánh Phêrô là con người bồng-bột, giản-dị phạm nhiều sai sót. Trong khi thánh Phaolô thì tính-khí phức-tạp, không dễ gì làm hoà được với nhiều người.
Do có khác-biệt về tính-khí, nên hai thánh đã hiểu lầm, xung-đột và bất đồng chánh-kiến, rất nhiều lần. Tuy thế, các ngài vẫn luôn gắn bó tình mến-thương cùng một Thày Chí Thánh cả vào khi chấp-nhận cái chết cho lòng Đạo Thày răn dạy. Điểm son ấy, lại cũng xuất từ tính giản-đơn và kết-hiệp nơi Đức Kitô, Đấng thiếu vắng tính cao-siêu, phức-tạp. Nét đẹp sáng-tạo là do sự bất-đồng nhưng lại hài-hoà từ sự khác-biệt của các yếu-tố tạo-thành.
Gương lành dị-biệt giữa tín-hữu thời tiên-khởi và đặc biệt giữa thánh Phêrô và Phaolô là lời mời gọi Hội-thánh cũng như mỗi người trong ta hãy tôn-trọng sự đa-dạng nơi lập-trường/quan-điểm, sức bén nhạy và phong-phú nơi nét đặc sắc khác-biệt ấy.
Bài đọc 1, sách Công Vụ cho thấy bầu khí vui tươi ban đầu khi thánh Phêrô sử-dụng quyền-bính với đồ-đệ và người theo Chúa, sau ngày Ngài khuất vãn. Cộng-đoàn khi ấy đều đã kết-hiệp nguyện-cầu ở phòng kín, có cửa đóng then cài. Lúc ấy, duy chỉ mỗi thánh Phêrô vắng mặt vì bị giam-giữ. Nhưng rồi, thánh-nhân thoát ngục cách lạ kỳ như chuyện trinh-thám. Ra tù, là chuyện dễ. Nhưng vào với cộng-đoàn Hội-thánh lại không thế. Bởi, thánh Phêrô là loại người có cung-cách diệu-kỳ luôn thu hút mọi người cả những chuyện không đâu lẫn việc đón-nhận ân-huệ mới, giống con trẻ.
Bài đọc 2, diễn-lộ đoạn cuối công-trình hoạt-động của thánh Phaolô, khi ấy xem chừng cũng đã mỏi mệt, già đi với mộng ước thường có, tính-khí cũng phức-tạp bởi cứ than-phiền là mọi người như thánh Máccô và Barnaba hằng lánh thân để thánh-nhân lại một mình, trơ trọi. Nhưng niềm tin ngài có vào Đức Kitô vẫn không hề chuyển lay và thánh-nhân cũng duy-trì niềm tin sắt-son cho đến chết như thánh Phêrô.
Trình thuật thánh Mát-thêu đưa ta về lại với lời tuyên-tín của thánh Phêrô và sứ-vụ Chúa giao trong đó có trọng trách dẫn dắt thánh hội. Lời thánh Phêrô tuyên xưng là câu đáp-trả khi Đức Giêsu hỏi mãi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?" một câu hỏi đượm tính mật-thiết đặt nặng lên từ-vựng “bảo”. Bảo đây, tức nói lên niềm-tin vào Thày mình là “Đức Kitô, Con Thiên-Chúa hằng sống.”
Niềm tin, thật ra không chỉ là động-thái nội tại nơi tâm can, cũng không chỉ là nhận-định mang tính thiêng-liêng, tinh thần. Nhưng vẫn cần nói ra bằng lời nói cũng như hành-động. Bằng ngôn-ngữ riêng-tư, bình dị, của chính ngài thánh Phêrô tuyên-xưng thiên-tính của Đức Giêsu, Thày mình.
Điều đó có nghĩa: Thày chính là Đấng Thiên-Sai. Là, Con Một của Thiên Chúa hằng sống. Và về sau, thánh-nhân còn tuyên-tín như thế cũng rất dài bằng những tháng ngày cuộc sống dẫn đến cả nỗi chết, cũng vì Thày. Tất cả, đều là sự nối dài, nới rộng của lời tuyên-tín rất đáng tin được thánh-nhân phát nên lời.
Hệt như thế, thánh Hội là cộng-đoàn gồm những người, những vị từng lĩnh-nhận thông-điệp về Đức Kitô nơi lời lẽ rất đáng tin của thánh Phêrô. Lời lẽ ấy, là cung-cách khiến thánh cả tuyên-xưng Thày mình đích-thị là Ai, Đấng nào.
Mỗi người chúng ta, là thành-viên cũng như cơ-phận của thánh Hội do Thày Giêsu đặt để, cũng phải biết đáp trả câu hỏi của Đức Giêsu Thày Chí Ái như thánh Phêrô từng làm. Nói bằng lời, là cung-cách giúp ta khẳng-định được niềm tin mình vẫn có xưa nay. Nói bằng lời hay hành-động, còn là chuyển-dịch những lời lẽ ấy vào cuộc sống biết phục-vụ người khác. Là, chuyển-ngữ Lời Chúa thành sự việc rất hiện-thực, trong đời mình.
Hôm nay đây, hai cột-trụ của thánh hội là thánh Phêrô, đại diện cho 12 vị đồ-đệ được Đức Giêsu mời gọi vào thời ấy, và cột-trụ kia là thánh Phaolô là đấng bậc đầu tiên đến với Chúa cũng khá trễ nhưng được gọi để trở thành nhân-chứng cho những gì Đức Giêsu từng làm.
Giống như hai thánh cả là cột-trụ của Hội thánh, mọi người chúng ta cũng được mời gọi ra đi tuyên-xưng và rao truyền Tin Mừng bằng cách sống thực Lời Lẽ của Ngài. Ra đi loan báo Tin Vui cho mọi người, bằng cung-cách sống-thực điều mình rao báo.
Nhưng, như thế vẫn chưa đủ. Ta còn được mời gọi rao truyền bằng lời lẽ, tuyên-xưng niềm tin mỗi ngày và mọi ngày trong đời mình ngang qua phụng-vụ và lời nguyện cầu, dâng lên Chúa. Ta làm nhiều hơn thế trong lời ca chúc tụng ngợi khen, ngang qua Đức Giêsu Kitô Con Một Thiên Chúa, là Chúa chúng ta. Nhiều vị, lại cũng được kêu mời bằng lời rao giảng, hoặc diễn-giải Lời của Chúa, rất hăng say.
Làm cách nào cũng là làm, nhưng điều quan-trọng là nối-kết lời lẽ mình diễn-giải hoặc rao truyền vào với cuộc sống đích-thực hằng ngày. Và, vào với hy-vọng rằng Đức Giêsu sẽ đáp-trả lời ta tuyên-xưng Ngài bằng cách cũng tuyên-dương cảm kích mối thịnh-tình của ta trước Thiên-Chúa-là-Cha Ngài.
Trong tinh-thần phấn-kích quyết tuyên-xưng, ta lại về với lời thơ những ngâm rằng:
“Ca những điệu ngọc vàng cao sang sảng,
Lời văng xa truyền nhiễm đến vô song.
Bầu hạo-nhiên lồng lộng một màu trong,
Không rung động bởi tơ huyền náo nức.”
(Hàn Mặc Tử - Ngoài Vũ Trụ)
Ca vang điệu ngọc cao sang sảng, lại cũng là và mãi mãi là tuyên-xưng niềm tin ta có với Chúa không chỉ bằng lời mà thôi. Nhưng, bằng cả cuộc đời hăng say, cảm-kích rất phấn-chấn được làm con và là đồ đệ của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống, rất như thế. Mãi một đời.
Viện phụ Armand Vielleux, OCSO (Scourmont, Bỉ) trước tác.
Mai Tá lược dịch bản tiếng Anh
do Lm Kevin O’Shea CSsR dịch từ tiếng Pháp.
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đàn áp tôn giáo ngày nay lan tràn nhiều hơn 1700 năm trước đây
Bùi Hữu Thư
07:45 21/06/2014
(VIS) –Sáng nay Đức Thánh Cha tiếp các tham dự viên của một hội nghị quốc tế được tổ chức tại Rôma trong hai ngày 20 và 21 tháng 6 với chủ đề:”Tự do tôn giáo theo Quốc Tế Công Pháp và những tranh chấp về giá trị trên toàn cầu.” Hội nghị được Phân Khoa Luật của Đại Học Maria SS. Assunta University of Rome (LUMSA) và Trường Luật của St. John's University tổ chức.
Đức Thánh Cha Phanxicô nhận xét rằng chủ đề tự do tôn giáo đã trở thành đề tài tranh luận cam go giữa các chính phủ và các tôn giáo, và Giáo Hội Công Giáo đã có một lịch sử lâu dài về hoạt động bênh vực cho tự do tôn giáo. Việc này đã đạt đến tột đỉnh trong tuyên ngôn “Dignitatis humanae” (Phẩm Giá Con Người) của Công Đồng Vatican II.
Ngài giải thích: “Mọi con người đều là những người ‘tìm kiếm chân lý’ về nguồn gốc và định mệnh của mình. Trong tâm trí họ, có những vấn đề và tư tưởng được nêu ra và không thể nào đè nén hay bóp nghẹn, vì được xuất phát từ đáy lòng con người và là một thành phần của căn tính người ấy. Đó là các vấn đề tôn giáo, và tự do tôn giáo là một nhân quyền căn bản, biểu hiệu cho phẩm giá cao cả nhất của con người, là tìm kiếm sự thật và gắn chặt vào sự thật, và công nhận rằng đó là một điều kiện tiên quyết để thực hiện tất cả các tiềm năng của mình. Tự do tôn giáo không chỉ là tự do tư tưởng hay tự do thờ phượng kín đáo. Đây là tự do sống theo các nguyên lý đạo đức, cả trong riêng tư hay trước công cộng, theo chân lý đã tìm kiếm được.”
Đức Thánh Cha mô tả tình trạng này là “thách đố lớn lao nhất của thế giới, là một căn bệnh, trong đó các tư tưởng yếu đuối cũng có thể giảm thiểu mức độ đạo lý nói chung, nhân danh những quan điểm sai lầm về sự bao dung, để đưa đến việc đàn áp những ai bảo vệ chân lý về nhân loại và các hậu quả về đạo đức”.
Ngài tiếp: “Vì thế, các hệ thống luật pháp, cả ở mức độ quốc gia và quốc tế được đòi hỏi phải công nhận, bảo đảm và bảo vệ tự do tôn giáo, vì đây là một nhân quyền căn bản của con người, trong phẩm giá nhân loại như những con người tự do, và cũng là một dấu chỉ của một nền dân chủ lành mạnh và một trong những nguồn gốc chính của sự chính đáng của một quốc gia. Tự do tôn giáo… khuyến khích sự phát triển các mối tương quan có sự tôn kính hỗ tương giữa các tôn giáo và sự hợp tác lành mạnh của họ với quốc gia và xã hội chính trị, mà không có sự hiểu nhầm về các vai trò cũng như không có sự xung khắc.”
Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng điều khó hiểu là con người vẫn tiếp tục bị kỳ thị, bị hạn chế nhân quyền và còn bị đàn áp vì tuyên xưng đức tin của họ. “Bây giờ, việc đàn áp các Kitô hữu còn mạnh mẽ hơn vào các thể kỷ đâu tiên của Giáo Hội, và có nhiều vị tử đạo hơn thời đó. Điều này xẩy ra 1700 năm sau sắc lệnh của Đại Đế Constantine, cho phép các Kitô hữu được tự do tuyên xưng đức tin trước công chúng.”
Đức Thánh Cha Phanxicô kết luận bằng việc bầy tỏ niềm hy vọng rằng Hội Nghị sẽ chứng tỏ sâu xa và với tính cách khoa học vững mạnh về các lý do để bó buộc các hệ thống luật pháp phải tôn trọng và bảo vệ tự do tôn giáo.
Đức Thánh Cha Phanxicô nhận xét rằng chủ đề tự do tôn giáo đã trở thành đề tài tranh luận cam go giữa các chính phủ và các tôn giáo, và Giáo Hội Công Giáo đã có một lịch sử lâu dài về hoạt động bênh vực cho tự do tôn giáo. Việc này đã đạt đến tột đỉnh trong tuyên ngôn “Dignitatis humanae” (Phẩm Giá Con Người) của Công Đồng Vatican II.
Ngài giải thích: “Mọi con người đều là những người ‘tìm kiếm chân lý’ về nguồn gốc và định mệnh của mình. Trong tâm trí họ, có những vấn đề và tư tưởng được nêu ra và không thể nào đè nén hay bóp nghẹn, vì được xuất phát từ đáy lòng con người và là một thành phần của căn tính người ấy. Đó là các vấn đề tôn giáo, và tự do tôn giáo là một nhân quyền căn bản, biểu hiệu cho phẩm giá cao cả nhất của con người, là tìm kiếm sự thật và gắn chặt vào sự thật, và công nhận rằng đó là một điều kiện tiên quyết để thực hiện tất cả các tiềm năng của mình. Tự do tôn giáo không chỉ là tự do tư tưởng hay tự do thờ phượng kín đáo. Đây là tự do sống theo các nguyên lý đạo đức, cả trong riêng tư hay trước công cộng, theo chân lý đã tìm kiếm được.”
Đức Thánh Cha mô tả tình trạng này là “thách đố lớn lao nhất của thế giới, là một căn bệnh, trong đó các tư tưởng yếu đuối cũng có thể giảm thiểu mức độ đạo lý nói chung, nhân danh những quan điểm sai lầm về sự bao dung, để đưa đến việc đàn áp những ai bảo vệ chân lý về nhân loại và các hậu quả về đạo đức”.
Ngài tiếp: “Vì thế, các hệ thống luật pháp, cả ở mức độ quốc gia và quốc tế được đòi hỏi phải công nhận, bảo đảm và bảo vệ tự do tôn giáo, vì đây là một nhân quyền căn bản của con người, trong phẩm giá nhân loại như những con người tự do, và cũng là một dấu chỉ của một nền dân chủ lành mạnh và một trong những nguồn gốc chính của sự chính đáng của một quốc gia. Tự do tôn giáo… khuyến khích sự phát triển các mối tương quan có sự tôn kính hỗ tương giữa các tôn giáo và sự hợp tác lành mạnh của họ với quốc gia và xã hội chính trị, mà không có sự hiểu nhầm về các vai trò cũng như không có sự xung khắc.”
Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng điều khó hiểu là con người vẫn tiếp tục bị kỳ thị, bị hạn chế nhân quyền và còn bị đàn áp vì tuyên xưng đức tin của họ. “Bây giờ, việc đàn áp các Kitô hữu còn mạnh mẽ hơn vào các thể kỷ đâu tiên của Giáo Hội, và có nhiều vị tử đạo hơn thời đó. Điều này xẩy ra 1700 năm sau sắc lệnh của Đại Đế Constantine, cho phép các Kitô hữu được tự do tuyên xưng đức tin trước công chúng.”
Đức Thánh Cha Phanxicô kết luận bằng việc bầy tỏ niềm hy vọng rằng Hội Nghị sẽ chứng tỏ sâu xa và với tính cách khoa học vững mạnh về các lý do để bó buộc các hệ thống luật pháp phải tôn trọng và bảo vệ tự do tôn giáo.
Đức Thánh Cha viếng thăm Giáo phận Cassano all'Jonio
Lm. Trần Đức Anh OP
18:38 21/06/2014
ROMA. Thứ bẩy 21-6-2014, ĐTC Phanxicô đã viếng thăm mục vụ giáo phận Cassano all'Jonio thuộc miền Calabria, nam Italia, gặp gỡ các tù nhân, người khuyết tật, các linh mục, người cao niên và cử hành thánh lễ cho các tín hữu.
Giáo phận Cassano cách Roma 400 cây số đường chim bay, có 106 ngàn tín hữu Công Giáo và hiện do Đức Cha Nunzio Galantino cai quản. Ngài cũng là Tổng thư ký HĐGM Italia. Vùng này thường bị nạn tổ chức bất lương N'drangheta, giống như mafia, hoành hành.
Chặng đầu tiên trong cuộc viếng thăm của ĐTC là nhà tù Castrovillari. Khi trực thăng chở ngài đáp xuống đây lúc quá 9 giờ sáng, Đức GM giáo phận cùng với ông thị trưởng và hàng trăm người đã nồng nhiệt đón tiếp, rồi ngài tiến vào nhà tù, Ông giám đốc Fedele Rizzo cùng với một toán cảnh sát chào đón, trước sự hiện diện của 200 người.
Lên tiếng sau khi thăm hỏi một số tù nhân, ĐTC cho biết cuộc viếng thăm của ngài tại đây là để bày tỏ sự gần gũi của ngài cũng như của Giáo Hội đối với mỗi người nam nữ đang ở trong nhà giam ở các nơi trên thế giới. Ngài cũng nhận xét rằng khi suy tư về các tù nhân, người ta thường nói đến vấn đề tôn trọng các quyền con người và sự cần thiết phải có những điều kiện thi hành án tù tương ứng. Khía cạnh này trong chính sách về các nhà cải huấn tuy là thiết yếu, nhưng vẫn chưa đủ, nếu không được bổ túc bằng sự dấn thân cụ thể của các cơ quan nhắm giúp các cựu tù nhân tái hội nhập vào xã hội.
ĐTC nói: ”Khi mục đích này bị lơ là, thì việc thi hành hình phạt chỉ là một phương thế trừng phạt và là một sự trả đũa của xã hội, nhiều khi có hại cho chính đương sự và cho xã hội”.
ĐTC cũng nhấn mạnh đến chiều kích tinh thần của tiến trình tái hội nhập vào xã hội và nói: ”Trong hành trình này cũng có cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, khả năng để cho Thiên Chúa nhìn đến, Người là Đấng yêu thương chúng ta, cảm thông và tha thứ các lỗi lầm của chúng ta. Chúa là Thầy dạy sự tái hội nhập, Người cầm tay và dẫn chúng ta trở lại cộng đoàn xã hội. Chúa luôn tha thứ, tháo tùng và cảm thông chúng ta”.
ĐTC đã bắt tay chào từng nữ tù nhân và khi chào mọi ngừơi, ngài nói: ”Xin anh chị em cầu nguyện cho tôi”.
Sau khi viếng thăm nhà tù, ĐTC cùng với Đức GM sở tại đáp trực thăng đến Cassano vào lúc 11 giờ. Tại đây ngài viếng thăm trung tâm thánh Giuseppe Moscato, chuyên chữa trị chống đau cho các bệnh nhân ở giai đoạn cuối đời.
Tiếp đến tại nhà thờ chính tòa Cassano, ĐTC đã gặp gỡ hàng giáo sĩ địa phương lúc 12 giờ trưa.
Trong bài huấn dụ ngắn nhân dịp này, ngài nhắc nhở cho các LM về niềm vui làm linh mục, vẻ đẹp của tình huynh đệ, đồng thời khích lệ các vị làm việc với các gia đình và cho các gia đình. ĐTC nhận xét rằng nhiều khi LM cảm thấy khó chịu khi thinh lặng ở trước Nhà tạm Mình Thánh Chúa. Lúc ấy Chúa Giêsu cho chúng ta thấy mình là những người thợ tốt, hoặc chỉ là những công nhân, công chức; chúng ta là những máng mở rộng, quảng đại qua đó tình thương và ơn thánh của Chúa tuôn chảy dồi dào, hoặc chúng ta tự đặt mình ở trung tâm, và thay vì là máng chuyển, chúng ta trở thành những hàng rào không giúp gặp gỡ Chúa, với ánh sáng và sức mạnh của Tin Mừng”.
ĐTC cảnh giác các linh mục về thái độ cá nhân chủ nghĩa trong mục vụ, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa tuyên dương cái tôi, đến độ tôn thờ nó như thần tượng. Sau cùng, cần phải quan tâm giúp đỡ các gia đình trong thời kỳ khó khăn hiện nay, nhiều gia đình bị khủng hoảng. Ngài nói: ”Chún gta được kêu gọi làm chứng nhân, làm người trung gian về sự gần gũi của Thiên Chúa đối với các gia đình và về sức mạnh ngôn sứ của Lời Chúa cho các gia đình”.
Sau cuộc gặp gỡ với hàng giáo sĩ, ĐTC đã đến chủng viện Gioan Phaolô I của giáo phận để dùng bữa trưa với các bệnh nhân cho những người nghèo do Caritas giáo phận giúp đỡ cũng như các bạn trẻ thuộc cộng đồng cai nghiện ”Saman”.
Ban chiều lúc 2 giờ rưỡi, ĐTC viếng thăm những người già tại nhà dưỡng lão Casa Serana, trước khi đến Sibari để cử hành thánh lễ vào lúc 4 giờ rưỡi chiều với sự tham dự của khoảng 200 ngàn tín hữu. Sau cùng, lúc 6 giờ chiều ngài đáp trực thăng trở về Roma. (SD 21-6-2014)
Giáo phận Cassano cách Roma 400 cây số đường chim bay, có 106 ngàn tín hữu Công Giáo và hiện do Đức Cha Nunzio Galantino cai quản. Ngài cũng là Tổng thư ký HĐGM Italia. Vùng này thường bị nạn tổ chức bất lương N'drangheta, giống như mafia, hoành hành.
Chặng đầu tiên trong cuộc viếng thăm của ĐTC là nhà tù Castrovillari. Khi trực thăng chở ngài đáp xuống đây lúc quá 9 giờ sáng, Đức GM giáo phận cùng với ông thị trưởng và hàng trăm người đã nồng nhiệt đón tiếp, rồi ngài tiến vào nhà tù, Ông giám đốc Fedele Rizzo cùng với một toán cảnh sát chào đón, trước sự hiện diện của 200 người.
Lên tiếng sau khi thăm hỏi một số tù nhân, ĐTC cho biết cuộc viếng thăm của ngài tại đây là để bày tỏ sự gần gũi của ngài cũng như của Giáo Hội đối với mỗi người nam nữ đang ở trong nhà giam ở các nơi trên thế giới. Ngài cũng nhận xét rằng khi suy tư về các tù nhân, người ta thường nói đến vấn đề tôn trọng các quyền con người và sự cần thiết phải có những điều kiện thi hành án tù tương ứng. Khía cạnh này trong chính sách về các nhà cải huấn tuy là thiết yếu, nhưng vẫn chưa đủ, nếu không được bổ túc bằng sự dấn thân cụ thể của các cơ quan nhắm giúp các cựu tù nhân tái hội nhập vào xã hội.
ĐTC nói: ”Khi mục đích này bị lơ là, thì việc thi hành hình phạt chỉ là một phương thế trừng phạt và là một sự trả đũa của xã hội, nhiều khi có hại cho chính đương sự và cho xã hội”.
ĐTC cũng nhấn mạnh đến chiều kích tinh thần của tiến trình tái hội nhập vào xã hội và nói: ”Trong hành trình này cũng có cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, khả năng để cho Thiên Chúa nhìn đến, Người là Đấng yêu thương chúng ta, cảm thông và tha thứ các lỗi lầm của chúng ta. Chúa là Thầy dạy sự tái hội nhập, Người cầm tay và dẫn chúng ta trở lại cộng đoàn xã hội. Chúa luôn tha thứ, tháo tùng và cảm thông chúng ta”.
ĐTC đã bắt tay chào từng nữ tù nhân và khi chào mọi ngừơi, ngài nói: ”Xin anh chị em cầu nguyện cho tôi”.
Sau khi viếng thăm nhà tù, ĐTC cùng với Đức GM sở tại đáp trực thăng đến Cassano vào lúc 11 giờ. Tại đây ngài viếng thăm trung tâm thánh Giuseppe Moscato, chuyên chữa trị chống đau cho các bệnh nhân ở giai đoạn cuối đời.
Tiếp đến tại nhà thờ chính tòa Cassano, ĐTC đã gặp gỡ hàng giáo sĩ địa phương lúc 12 giờ trưa.
Trong bài huấn dụ ngắn nhân dịp này, ngài nhắc nhở cho các LM về niềm vui làm linh mục, vẻ đẹp của tình huynh đệ, đồng thời khích lệ các vị làm việc với các gia đình và cho các gia đình. ĐTC nhận xét rằng nhiều khi LM cảm thấy khó chịu khi thinh lặng ở trước Nhà tạm Mình Thánh Chúa. Lúc ấy Chúa Giêsu cho chúng ta thấy mình là những người thợ tốt, hoặc chỉ là những công nhân, công chức; chúng ta là những máng mở rộng, quảng đại qua đó tình thương và ơn thánh của Chúa tuôn chảy dồi dào, hoặc chúng ta tự đặt mình ở trung tâm, và thay vì là máng chuyển, chúng ta trở thành những hàng rào không giúp gặp gỡ Chúa, với ánh sáng và sức mạnh của Tin Mừng”.
ĐTC cảnh giác các linh mục về thái độ cá nhân chủ nghĩa trong mục vụ, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa tuyên dương cái tôi, đến độ tôn thờ nó như thần tượng. Sau cùng, cần phải quan tâm giúp đỡ các gia đình trong thời kỳ khó khăn hiện nay, nhiều gia đình bị khủng hoảng. Ngài nói: ”Chún gta được kêu gọi làm chứng nhân, làm người trung gian về sự gần gũi của Thiên Chúa đối với các gia đình và về sức mạnh ngôn sứ của Lời Chúa cho các gia đình”.
Sau cuộc gặp gỡ với hàng giáo sĩ, ĐTC đã đến chủng viện Gioan Phaolô I của giáo phận để dùng bữa trưa với các bệnh nhân cho những người nghèo do Caritas giáo phận giúp đỡ cũng như các bạn trẻ thuộc cộng đồng cai nghiện ”Saman”.
Ban chiều lúc 2 giờ rưỡi, ĐTC viếng thăm những người già tại nhà dưỡng lão Casa Serana, trước khi đến Sibari để cử hành thánh lễ vào lúc 4 giờ rưỡi chiều với sự tham dự của khoảng 200 ngàn tín hữu. Sau cùng, lúc 6 giờ chiều ngài đáp trực thăng trở về Roma. (SD 21-6-2014)
Top Stories
Pope Francis: the joy of priesthood and the beauty of fraternity
Vatican Radio
12:52 21/06/2014
Vatican June 21, 2014 - “I have very much desired this meeting with you who bear the daily burden of parish work” Pope Francis said on Saturday, greeting the priests of the Diocese of Cassano all’Jonio.
In his address, the Holy Father spoke to the assembled clerics about “the joy of being a priest.” There is nothing more beautiful for a man than to be called to the priesthood, he said… called to follow Jesus, to be with Him, to bring Jesus to others, to bring them His Word and His forgiveness. Although the work of a priest is not always easy, drawing near to Jesus in the tabernacle can renew and re-animate priestly zeal. Stopping for a moment before the tabernacle can also lead priests to examine their consciences: “In the silence of prayer Jesus make us see if we are working as good workers, or if we have become a little like ‘employees;’ if we are open, generous ‘channels,’ through which His love, His grace can flow abundantly; or if instead we place ourselves at the centre, and so instead of being channels we become screens that do not help the encounter with God, with the light and the strength of the Gospel.”
Pope Francis also spoke about “the beauty of fraternity.” Priests especially do not follow the Lord just as individuals, but as members of a community, with “a great variety of gifts and personalities” which enrich the priesthood when they are lived “in communion and fraternity.” Even priests, however, “are immersed in a subjectivist culture that exalts the ‘I’ even to the point of idolizing it.” Pope Francis warned of “a certain pastoral individualism that unfortunately is diffused in our dioceses.” Priestly fraternity, then, is a conscious choice that must be cultivated, sought “in communion in Christ in the presbyterate gathered around the Bishop.”
Finally, the Holy Father encouraged the priests in their work “with families and for the family.” It is a difficult time, he said, both for the family as an institution and for individual families that struggle in the crises they face. Priests, he said, “are called to be witnesses and mediators” of God’s “nearness to families, and of the prophetic force” of God’s Word “for the family.”
In his address, the Holy Father spoke to the assembled clerics about “the joy of being a priest.” There is nothing more beautiful for a man than to be called to the priesthood, he said… called to follow Jesus, to be with Him, to bring Jesus to others, to bring them His Word and His forgiveness. Although the work of a priest is not always easy, drawing near to Jesus in the tabernacle can renew and re-animate priestly zeal. Stopping for a moment before the tabernacle can also lead priests to examine their consciences: “In the silence of prayer Jesus make us see if we are working as good workers, or if we have become a little like ‘employees;’ if we are open, generous ‘channels,’ through which His love, His grace can flow abundantly; or if instead we place ourselves at the centre, and so instead of being channels we become screens that do not help the encounter with God, with the light and the strength of the Gospel.”
Pope Francis also spoke about “the beauty of fraternity.” Priests especially do not follow the Lord just as individuals, but as members of a community, with “a great variety of gifts and personalities” which enrich the priesthood when they are lived “in communion and fraternity.” Even priests, however, “are immersed in a subjectivist culture that exalts the ‘I’ even to the point of idolizing it.” Pope Francis warned of “a certain pastoral individualism that unfortunately is diffused in our dioceses.” Priestly fraternity, then, is a conscious choice that must be cultivated, sought “in communion in Christ in the presbyterate gathered around the Bishop.”
Finally, the Holy Father encouraged the priests in their work “with families and for the family.” It is a difficult time, he said, both for the family as an institution and for individual families that struggle in the crises they face. Priests, he said, “are called to be witnesses and mediators” of God’s “nearness to families, and of the prophetic force” of God’s Word “for the family.”
Pope: mafiosi are excommunicated, not in communion with God
Vatican Radio
12:54 21/06/2014
Vatican June 21, 2014 - Pope Francis concluded his one-day trip to the southern Italian region of Calabria with strong words against the Calabrian mafia, calling it “adoration of evil and contempt for the common good.”
“Those who in their lives have taken this evil road, this road of evil, such as the mobsters, they are not in communion with God, they are excommunicated,” he said to applause.
The Pope made these statements on Saturday during the feast-day Mass he presided for Corpus Domini on the plains of the small town of Sibari, a once-important city in the Hellenistic period of Calabrian history.
Organizers planned for 200,000 faithful to attend. They gathered under the hot sun, with temperatures flirting around the 30-degree mark. Sitting in the first rows of the assembly were those with illness and disability, rather than local dignitaries—a decision the local bishop chose to underline ahead of the Pope’s trip.
The Pope’s visit to the region, marked by violence and corruption and renowned for mafia activity, was highly anticipated by the locals, who in recent months were rocked by the murder of Fr. Lazzaro Longobardi, as well as the death of a three-year-old boy, the innocent victim of a mafia homicide.
In his homily, the Pope spoke about the evils that can occur when adoration of God is replaced by adoration of money.
“Your land, which so beautiful, knows the signs of the consequences of this sin," he told those assembled. "This evil must be fought, must be expelled.” He called on the local Church to expend itself even more “so that good can prevail”.
“Our children ask this of us,” he added.
He said faith can help in responding to these demands. He called the faithful of the Church in Calabria to be brothers and to show each other practical solidarity, noting signs of hope in local families and in the Church. He also urged young people not to allow themselves to be robbed of hope.
He told the faithful his trip was intended to express his support for the local Church, to confirm the people in faith and charity, and to encourage them in their journey with Jesus Christ.
“Today,” he continued, “we ask the Lord to enlighten us and to convert us, so that we truly adore only him and we renounce evil in all its forms.”
He concluded, saying that in adoring Christ and following him, parishes will grow in faith and charity and they will be places where people walk alongside each other and support, help and love each other, even in difficult moments.
“Those who in their lives have taken this evil road, this road of evil, such as the mobsters, they are not in communion with God, they are excommunicated,” he said to applause.
The Pope made these statements on Saturday during the feast-day Mass he presided for Corpus Domini on the plains of the small town of Sibari, a once-important city in the Hellenistic period of Calabrian history.
Organizers planned for 200,000 faithful to attend. They gathered under the hot sun, with temperatures flirting around the 30-degree mark. Sitting in the first rows of the assembly were those with illness and disability, rather than local dignitaries—a decision the local bishop chose to underline ahead of the Pope’s trip.
The Pope’s visit to the region, marked by violence and corruption and renowned for mafia activity, was highly anticipated by the locals, who in recent months were rocked by the murder of Fr. Lazzaro Longobardi, as well as the death of a three-year-old boy, the innocent victim of a mafia homicide.
In his homily, the Pope spoke about the evils that can occur when adoration of God is replaced by adoration of money.
“Your land, which so beautiful, knows the signs of the consequences of this sin," he told those assembled. "This evil must be fought, must be expelled.” He called on the local Church to expend itself even more “so that good can prevail”.
“Our children ask this of us,” he added.
He said faith can help in responding to these demands. He called the faithful of the Church in Calabria to be brothers and to show each other practical solidarity, noting signs of hope in local families and in the Church. He also urged young people not to allow themselves to be robbed of hope.
He told the faithful his trip was intended to express his support for the local Church, to confirm the people in faith and charity, and to encourage them in their journey with Jesus Christ.
“Today,” he continued, “we ask the Lord to enlighten us and to convert us, so that we truly adore only him and we renounce evil in all its forms.”
He concluded, saying that in adoring Christ and following him, parishes will grow in faith and charity and they will be places where people walk alongside each other and support, help and love each other, even in difficult moments.
Thông Báo
Mùa Hồng Ân: Chúc mừng 5 Tân Linh Mục thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Melbourne
Lm Anthony Nguyễn Hữu Quảng sdb
20:24 21/06/2014
Văn Hóa
Hiện tượng bóng đá
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
08:20 21/06/2014
Hiện tượng bóng đá
Từ ngày bắt đầu Word Cup 2014 ở bên Nam Mỹ châu nước Brazil, 12.06.2014, đến hôm nay 20.06.2014, theo ước tính đã có tới vài trăm triệu người theo dõi những trận thi đấu bóng đá trên sân cỏ của biến cố này qua màn ảnh truyền hình khắp nơi trên thế giới. Con số này sẽ còn tăng lên cao hơn nữa, nhất là vào những vòng thi đấu sâu hơn: vòng thứ tám, tứ kết, bán kết và chung kết.
Bóng đá như thế đã và đang trở thành một điều gì bất thường, hay một đột phá trong đời sống thường ngày. Với những người hâm mộ say mê, mùa bóng đá tựa như „mùa thứ năm“ chen lẫn trong bốn mùa tuần hoàn Xuân Hạ Thu Đông của thiên nhiên.
Bóng đá được bình giải nói đến nhiều liên tục lúc này ở khắp mọi nơi không chỉ trong vòng lý luận tranh cãi, mà còn mang dấu vết sâu đậm rất nhiều tình cảm buồn vui, thất vọng cùng hy vọng, hãnh diện cùng chút gì quê quê xấu hổ nữa...
Thể thao bóng đá và tinh thần tôn giáo
Bóng đá tuy là môn thể thao giải trí xưa nay, nhưng dần dần bóng đá cũng mang một ý nghĩa tinh thần đạo giáo, nhất là về khía cạnh huấn luyện giáo dục đào tạo cho nếp sống nhân bản.
Có ý kiến, nhìn thấy nơi những cổ động viên hâm mộ say mê bóng đá, cho rằng những người này đã đang liên kết tạo thành một „cộng đoàn tin kính“ về ba nhân đức niềm tin, lòng yêu mến và niềm hy vọng đối với đội bóng, Câu lạc bộ của họ, hay nôm na là „ gà nhà“ của mình. Họ yêu mến hồi hộp tựa như „lên cơn sốt rét“ cầu mong đạt được chiến thắng mỗi khi đội „ gà nhà“ thi đấu trên sân cỏ. Có nhà bình luận không ngần ngại nghĩ rằng bóng đá đang trên đường trở thành một thứ loại „tôn giáo thế giới“ có tầm cỡ lớn.
Những người hâm mộ bóng đá đội banh thành phố Dortmund bên nước Đức, khi đến cầu trường xem thi đấu họ hát vang bài ca của họ trong đó có câu:
„Leuchte auf, zeige mir den Weg. Ich hege mit Dir, Borussia. - Hãy soi chỉ đường cho tôi. Tôi cùng đi với bạn, hỡi đội banh Borussia? „ Họ ca những lời này muốn củng cố cổ võ tinh thần đội banh gà nhà của họ mạnh mẽ lên.
Hay những người hâm mộ đội banh FC Liverpool bên Anh quốc có lời trong bài hát của họ:
„ You will never walk alone - Bạn sẽ chẳng đi một mình đâu.“.
Những lời hát này vang vọng như phảng phất lại những lời trong Kinh Thánh viết nơi sách Tiên Tri Isaia, chương 43, 2: „ Dù ngươi có băng qua nước, Ta, Đức Chúa của người, ở cùng ngươi, ngươi có vượt qua sông, cũng không bị nước cuốn, ngươi có đi trong lửa, cũng chẳng hề hấn gì, ngọn lửa không thiêu rụi ngươi đâu.“.
Như vậy phải chăng bóng đá cũng là một thứ loại niềm tin tôn giáo?
Trận đấu banh và lễ nghi phượng thờ
Những trận thi đấu bóng đá thu hút hàng chục ngàn người mua vé vào cầu trường xem, đang khi nơi các Thánh đường lại thưa vắng ít người đi đến tham dự lễ nghi phụng vụ thánh lễ. Tại sao vậy?
Có suy nghĩ rằng: sân cỏ bóng đá mang đến bầu khí hào hứng gây cấn hơn nhà thờ. Vì ở nhà thờ luôn luôn một luận điệu: Bạn sẽ thắng, Thiên Chúa sẽ phù hộ ban ơn cho Bạn, và có thể không có sự gì xảy đến đâu. Luận điệu đó một chiều tẻ nhạt qúa. Trên sân cỏ thi đấu Bóng đá thì khác. Nó mang đến bầu khí nhiều thay đổi, lên xuống hồi hộp căng thẳng gây cấn hào hứng hơn là một lễ nghi phượng thờ trong thánh đường.
Trên phương diện thi đấu, các cầu thủ chơi banh không chỉ bằng thể lực cùng kỹ thuật, nhưng còn với nghệ thuật cùng đam mê nồng nhiệt nữa hơn hẳn một cộng đoàn tôn giáo.
Nhưng không phải từ đầu đến cuối trận thi đấu cả 90 phút đều diễn xảy ra căng thẳng gây cấn đâu. Có những giai đoạn thi đấu, những trận thi đấu cũng nhàm chán tẻ nhạt vậy, khi cầu thủ chơi phạm lỗi, chơi không đẹp không điệu nghệ, thua trận...Xem những trận như thế, Cổ động viên, khán giả đi xem cũng cảm thấy nhàm chán rồi thất vọng bỏ ra đi về nhà sớm. Ấy là chưa nói đến những lạm dụng, những xì căng đan qua thương vụ mua bán trong môn ngành này đã từng xảy ra.
Và như vậy, bóng đá đâu phải là cái gì có thể làm cho bầu khí trong đời sống luôn luôn có hào hứng gây cấn.
Nó cũng có giới hạn của nó, cùng không thể thay thế là món ăn lành mạnh nuôi dưỡng tinh thần được.
Có Thiên Chúa bóng đá không?
Có những người hoặc có ý kiến suy nghĩ cực đoan, hoặc muốn vui đùa cùng ý muốn nhạo báng, nên đã đặt ra thắc mắc: phải chăng có một Thiên Chúa bóng đá ?
Thắc mắc hay qủa quyết này gây ra sự bực bội đến độ nóng giận dữ nơi tôn giáo. Vì đó là suy nghĩ mang mầu sắc cuồng tín khiêu khích. Đức Hồng Y Woelki, Tổng giám mục Berlin cho điều đó là sự sáng chế của báo chí đặt ra thôi: „ Không, không, không, Làm gì có một Thiên Chúa bóng đá. Nhưng chỉ có một Thiên Chúa, Ngài ở trên tất cả.“
Cựu Thủ môn Oliver Kahn của đội banh nước Đức đã nói về thắc mắc Phải chăng những cầu thủ đá banh là những vị thần thánh của chúng ta? : „ Tôi đã có lần nói đến một Thiên Chúa bóng đá, và sau đó suy nghĩ lại tôi rất ân hận rất bực mình:Tại sao mình lại có thể suy nghĩ ra điều vô lý nhảm nhí như thế được. Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất thôi. Thiên Chúa này ban tặng cho ta sức lực giúp ta trong mọi hoàn cảnh tích cực cũng như tiêu cực sống vượt qua. Đó là Thiên Chúa của Kitô giáo, mà tôi hằng tin tưởng.“
Nhà huấn luyện bóng đá nổi tiếng, còn gọi là nhà dìu dắt hay Ông bầu, J. Klopp của đội banh Dortmund, một tín hữu Tin Lành, cũng phát biểu tương tự: „ Không làm gì có Thiên Chúa bóng đá đâu. Nhưng tôi tin có một Thiên Chúa, Ngài yêu thương con người chúng ta như chúng ta là với tất cả những tích cực cũng như tiêu cực của đời sống. Chính vì thế, tôi nghĩ rằng Thiên Chúa cũng yêu thích bóng đá.“
Thể hiện nét thâm sâu đời sống
Thắc mắc đặt ra vì cớ gì mà thể thao bóng đá lại hấp dẫn con người càng ngày càng mãnh liệt?
Tại sao con người lại say mê hâm mộ bóng đá, dù không phải hết tất cả mọi người, như một hiện tượng liên quan mật thiết với đời sống vậy?
Đàng sau hiện tượng gây hào hứng sôi nổi của bóng đá có còn thể hiện điều gì nữa không?
Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, bây giờ là Đức Giáo Hoàng nghỉ hưu Benedicto XVI., đã có suy tư về khía cạnh này:
„Người bi quan sẽ cho rằng, điều đó giống như ở thời Roma cổ xưa, họ đã viết trên biểu ngữ: Panem et circenses – Cơm bánh ăn và trò chơi Xiếc. Ăn và chơi chỉ là nội dung đời sống của một xã hội đang trên đà xuống dốc, đang lúc họ không còn nhận ra những đích điểm cao hơn nữa.
.....................................
Ðưa mắt nhìn ngược trở về thời Roma xa xưa, chúng ta có thể tìm ra câu trả lời, tiếng la hét đòi cơm bánh và môn chơi biểu hiện của khát vọng về một đời sống thiên đàng hạnh phúc, về một đời sống no đủ không có cực nhọc vất vả, và tự do được thỏa mãn tràn đầy. Ðiều này ẩn chứa trong môn chơi: trong hành động hoàn toàn tự do, không có đích điểm, không có sự bó buộc, nhưng có cố gắng về sức lực và được thi hành trọn vẹn.
Trong ý nghĩa này môn chơi (bóng đá) cũng là một thể loại thử tìm về trở về nhà, nơi là thiên đàng hạnh phúc: bước thoát ra khỏi đời sống hằng ngày bị trói buộc do những ràng buộc căng thẳng vất vả, và lo liệu cho đời sống căng thẳng có tự do những gì không bắt buộc và dẫn dưa đưa đến sự tốt đẹp.“ (Hồng Y Joseph Ratzinger, bài nói chuyện trên hệ thống truyền thanh về bóng đá, năm 1978 )
Bóng đá ngày nay là môn thể thao phổ thông trên khắp thế giới. Quốc gia đất nước, thành phố, tỉnh thành nào cũng hầu như đều có sân bóng đá, đội banh chuyên nghiệp, hay những người chơi tập luyện thể thao bóng đá cho khỏe mạnh, và cũng có những hội của những người hâm mộ say mê môn bóng đá ủng hộ đội gà nhà. Nhưng bóng đá, dù có thời điểm lúc nào vượt qua ngưỡng cửa môn thể thao thuần túy, cũng không thể nào là đời sống hay thay cho niềm tin tôn giáo được.
Vì những cảm xúc, cảm tính thường hay nhất thời lên xuống bất thường theo biểu đồ nhiệt độ tình cảm con người. Hơn nữa những trận thi đấu bóng đá chỉ diễn ra theo mùa ấn định, và các cầu thủ, dù họ được tôn vinh là thần tượng anh hùng đi nữa, cũng chỉ có một thời gian lúc tuổi trẻ sức lực đầy tràn lên cao, rồi lại tụt xuống dốc thôi.
Một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp được hỏi : Điều gì quan trọng cho đời sống: Bóng đá hay đức tin tôn giáo?. Anh đã nói ngay: Đây là câu hỏi khó trả lời. Nhưng tôi vẫn thích sống không có bóng đá hơn là không có niềm tin tôn giáo của riêng tôi.
Mùa World Cup 2014
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
Từ ngày bắt đầu Word Cup 2014 ở bên Nam Mỹ châu nước Brazil, 12.06.2014, đến hôm nay 20.06.2014, theo ước tính đã có tới vài trăm triệu người theo dõi những trận thi đấu bóng đá trên sân cỏ của biến cố này qua màn ảnh truyền hình khắp nơi trên thế giới. Con số này sẽ còn tăng lên cao hơn nữa, nhất là vào những vòng thi đấu sâu hơn: vòng thứ tám, tứ kết, bán kết và chung kết.
Bóng đá như thế đã và đang trở thành một điều gì bất thường, hay một đột phá trong đời sống thường ngày. Với những người hâm mộ say mê, mùa bóng đá tựa như „mùa thứ năm“ chen lẫn trong bốn mùa tuần hoàn Xuân Hạ Thu Đông của thiên nhiên.
Bóng đá được bình giải nói đến nhiều liên tục lúc này ở khắp mọi nơi không chỉ trong vòng lý luận tranh cãi, mà còn mang dấu vết sâu đậm rất nhiều tình cảm buồn vui, thất vọng cùng hy vọng, hãnh diện cùng chút gì quê quê xấu hổ nữa...
Thể thao bóng đá và tinh thần tôn giáo
Bóng đá tuy là môn thể thao giải trí xưa nay, nhưng dần dần bóng đá cũng mang một ý nghĩa tinh thần đạo giáo, nhất là về khía cạnh huấn luyện giáo dục đào tạo cho nếp sống nhân bản.
Có ý kiến, nhìn thấy nơi những cổ động viên hâm mộ say mê bóng đá, cho rằng những người này đã đang liên kết tạo thành một „cộng đoàn tin kính“ về ba nhân đức niềm tin, lòng yêu mến và niềm hy vọng đối với đội bóng, Câu lạc bộ của họ, hay nôm na là „ gà nhà“ của mình. Họ yêu mến hồi hộp tựa như „lên cơn sốt rét“ cầu mong đạt được chiến thắng mỗi khi đội „ gà nhà“ thi đấu trên sân cỏ. Có nhà bình luận không ngần ngại nghĩ rằng bóng đá đang trên đường trở thành một thứ loại „tôn giáo thế giới“ có tầm cỡ lớn.
Những người hâm mộ bóng đá đội banh thành phố Dortmund bên nước Đức, khi đến cầu trường xem thi đấu họ hát vang bài ca của họ trong đó có câu:
„Leuchte auf, zeige mir den Weg. Ich hege mit Dir, Borussia. - Hãy soi chỉ đường cho tôi. Tôi cùng đi với bạn, hỡi đội banh Borussia? „ Họ ca những lời này muốn củng cố cổ võ tinh thần đội banh gà nhà của họ mạnh mẽ lên.
Hay những người hâm mộ đội banh FC Liverpool bên Anh quốc có lời trong bài hát của họ:
„ You will never walk alone - Bạn sẽ chẳng đi một mình đâu.“.
Những lời hát này vang vọng như phảng phất lại những lời trong Kinh Thánh viết nơi sách Tiên Tri Isaia, chương 43, 2: „ Dù ngươi có băng qua nước, Ta, Đức Chúa của người, ở cùng ngươi, ngươi có vượt qua sông, cũng không bị nước cuốn, ngươi có đi trong lửa, cũng chẳng hề hấn gì, ngọn lửa không thiêu rụi ngươi đâu.“.
Như vậy phải chăng bóng đá cũng là một thứ loại niềm tin tôn giáo?
Trận đấu banh và lễ nghi phượng thờ
Những trận thi đấu bóng đá thu hút hàng chục ngàn người mua vé vào cầu trường xem, đang khi nơi các Thánh đường lại thưa vắng ít người đi đến tham dự lễ nghi phụng vụ thánh lễ. Tại sao vậy?
Có suy nghĩ rằng: sân cỏ bóng đá mang đến bầu khí hào hứng gây cấn hơn nhà thờ. Vì ở nhà thờ luôn luôn một luận điệu: Bạn sẽ thắng, Thiên Chúa sẽ phù hộ ban ơn cho Bạn, và có thể không có sự gì xảy đến đâu. Luận điệu đó một chiều tẻ nhạt qúa. Trên sân cỏ thi đấu Bóng đá thì khác. Nó mang đến bầu khí nhiều thay đổi, lên xuống hồi hộp căng thẳng gây cấn hào hứng hơn là một lễ nghi phượng thờ trong thánh đường.
Trên phương diện thi đấu, các cầu thủ chơi banh không chỉ bằng thể lực cùng kỹ thuật, nhưng còn với nghệ thuật cùng đam mê nồng nhiệt nữa hơn hẳn một cộng đoàn tôn giáo.
Nhưng không phải từ đầu đến cuối trận thi đấu cả 90 phút đều diễn xảy ra căng thẳng gây cấn đâu. Có những giai đoạn thi đấu, những trận thi đấu cũng nhàm chán tẻ nhạt vậy, khi cầu thủ chơi phạm lỗi, chơi không đẹp không điệu nghệ, thua trận...Xem những trận như thế, Cổ động viên, khán giả đi xem cũng cảm thấy nhàm chán rồi thất vọng bỏ ra đi về nhà sớm. Ấy là chưa nói đến những lạm dụng, những xì căng đan qua thương vụ mua bán trong môn ngành này đã từng xảy ra.
Và như vậy, bóng đá đâu phải là cái gì có thể làm cho bầu khí trong đời sống luôn luôn có hào hứng gây cấn.
Nó cũng có giới hạn của nó, cùng không thể thay thế là món ăn lành mạnh nuôi dưỡng tinh thần được.
Có Thiên Chúa bóng đá không?
Có những người hoặc có ý kiến suy nghĩ cực đoan, hoặc muốn vui đùa cùng ý muốn nhạo báng, nên đã đặt ra thắc mắc: phải chăng có một Thiên Chúa bóng đá ?
Thắc mắc hay qủa quyết này gây ra sự bực bội đến độ nóng giận dữ nơi tôn giáo. Vì đó là suy nghĩ mang mầu sắc cuồng tín khiêu khích. Đức Hồng Y Woelki, Tổng giám mục Berlin cho điều đó là sự sáng chế của báo chí đặt ra thôi: „ Không, không, không, Làm gì có một Thiên Chúa bóng đá. Nhưng chỉ có một Thiên Chúa, Ngài ở trên tất cả.“
Cựu Thủ môn Oliver Kahn của đội banh nước Đức đã nói về thắc mắc Phải chăng những cầu thủ đá banh là những vị thần thánh của chúng ta? : „ Tôi đã có lần nói đến một Thiên Chúa bóng đá, và sau đó suy nghĩ lại tôi rất ân hận rất bực mình:Tại sao mình lại có thể suy nghĩ ra điều vô lý nhảm nhí như thế được. Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất thôi. Thiên Chúa này ban tặng cho ta sức lực giúp ta trong mọi hoàn cảnh tích cực cũng như tiêu cực sống vượt qua. Đó là Thiên Chúa của Kitô giáo, mà tôi hằng tin tưởng.“
Nhà huấn luyện bóng đá nổi tiếng, còn gọi là nhà dìu dắt hay Ông bầu, J. Klopp của đội banh Dortmund, một tín hữu Tin Lành, cũng phát biểu tương tự: „ Không làm gì có Thiên Chúa bóng đá đâu. Nhưng tôi tin có một Thiên Chúa, Ngài yêu thương con người chúng ta như chúng ta là với tất cả những tích cực cũng như tiêu cực của đời sống. Chính vì thế, tôi nghĩ rằng Thiên Chúa cũng yêu thích bóng đá.“
Thể hiện nét thâm sâu đời sống
Thắc mắc đặt ra vì cớ gì mà thể thao bóng đá lại hấp dẫn con người càng ngày càng mãnh liệt?
Tại sao con người lại say mê hâm mộ bóng đá, dù không phải hết tất cả mọi người, như một hiện tượng liên quan mật thiết với đời sống vậy?
Đàng sau hiện tượng gây hào hứng sôi nổi của bóng đá có còn thể hiện điều gì nữa không?
Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, bây giờ là Đức Giáo Hoàng nghỉ hưu Benedicto XVI., đã có suy tư về khía cạnh này:
„Người bi quan sẽ cho rằng, điều đó giống như ở thời Roma cổ xưa, họ đã viết trên biểu ngữ: Panem et circenses – Cơm bánh ăn và trò chơi Xiếc. Ăn và chơi chỉ là nội dung đời sống của một xã hội đang trên đà xuống dốc, đang lúc họ không còn nhận ra những đích điểm cao hơn nữa.
.....................................
Ðưa mắt nhìn ngược trở về thời Roma xa xưa, chúng ta có thể tìm ra câu trả lời, tiếng la hét đòi cơm bánh và môn chơi biểu hiện của khát vọng về một đời sống thiên đàng hạnh phúc, về một đời sống no đủ không có cực nhọc vất vả, và tự do được thỏa mãn tràn đầy. Ðiều này ẩn chứa trong môn chơi: trong hành động hoàn toàn tự do, không có đích điểm, không có sự bó buộc, nhưng có cố gắng về sức lực và được thi hành trọn vẹn.
Trong ý nghĩa này môn chơi (bóng đá) cũng là một thể loại thử tìm về trở về nhà, nơi là thiên đàng hạnh phúc: bước thoát ra khỏi đời sống hằng ngày bị trói buộc do những ràng buộc căng thẳng vất vả, và lo liệu cho đời sống căng thẳng có tự do những gì không bắt buộc và dẫn dưa đưa đến sự tốt đẹp.“ (Hồng Y Joseph Ratzinger, bài nói chuyện trên hệ thống truyền thanh về bóng đá, năm 1978 )
Bóng đá ngày nay là môn thể thao phổ thông trên khắp thế giới. Quốc gia đất nước, thành phố, tỉnh thành nào cũng hầu như đều có sân bóng đá, đội banh chuyên nghiệp, hay những người chơi tập luyện thể thao bóng đá cho khỏe mạnh, và cũng có những hội của những người hâm mộ say mê môn bóng đá ủng hộ đội gà nhà. Nhưng bóng đá, dù có thời điểm lúc nào vượt qua ngưỡng cửa môn thể thao thuần túy, cũng không thể nào là đời sống hay thay cho niềm tin tôn giáo được.
Vì những cảm xúc, cảm tính thường hay nhất thời lên xuống bất thường theo biểu đồ nhiệt độ tình cảm con người. Hơn nữa những trận thi đấu bóng đá chỉ diễn ra theo mùa ấn định, và các cầu thủ, dù họ được tôn vinh là thần tượng anh hùng đi nữa, cũng chỉ có một thời gian lúc tuổi trẻ sức lực đầy tràn lên cao, rồi lại tụt xuống dốc thôi.
Một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp được hỏi : Điều gì quan trọng cho đời sống: Bóng đá hay đức tin tôn giáo?. Anh đã nói ngay: Đây là câu hỏi khó trả lời. Nhưng tôi vẫn thích sống không có bóng đá hơn là không có niềm tin tôn giáo của riêng tôi.
Mùa World Cup 2014
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long