SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
Làm rõ sự thật và nguyên nhân
Nhà Xuất Bản Ignatius Press San Francisco
PHẦN II Nguồn gốc của Lạm dụng Tình dục bởi Giáo sĩ
Chương 12. Vai trò của các phong trào bất đồng chính kiến có tổ chứctiếp theo
Giáo dục Công Giáo
Năm 1975, khi tôi đang dạy học tại trường St. Lucy ở Spanish Harlem, hiệu trưởng đã yêu cầu tôi đại diện cho trường tham dự một cuộc họp của các nhà giáo dục trên toàn Tổng giáo phận New York. Lúc đó tôi đang dạy tôn giáo và nghiên cứu xã hội ở trường tiểu học. Có sáu mươi chín nhà giáo dục tham dự cuộc họp (tôi là một trong số ít người), mục đích là để cải thiện việc giảng dạy Công Giáo cho học sinh. Tôi giơ tay, đứng lên, cầm một cuốn sách giáo khoa tôn giáo trên tay và nói rằng thật không dễ để dạy tôn giáo khi trong sách không có tôn giáo nào cả. Tất cả những gì nó nói chỉ là tình yêu và lòng tốt, với những bức ảnh những người theo phong trào hippie trong thùng rác vẫy biểu tượng hòa bình. Tôi nói, hầu như không có gì trong cuốn sách mà bất cứ người vô thần nào không thể chấp nhận được. Cả căn phòng bùng nổ: khoảng một nửa ủng hộ, và một nửa thì không. Sau đó, tôi được bầu làm chủ tịch ủy ban giáo dục tôn giáo của tổng giáo phận.
Sau khi rời trường St. Lucy để nhận vị trí tại trường La Roche College, một trường đại học nhân văn do các Nữ tu Chúa Quan Phòng điều hành, tôi đã tham dự các buổi tham quan trường; đây là những cơ hội để sinh viên tương lai và phụ huynh của họ gặp gỡ giảng viên và các nhà quản lý. Tôi chưa bao giờ nghe thấy từ "Công Giáo" được nhắc đến nhiều lần hơn tại những biến cố này (các nhà quản lý theo chủ nghĩa duy nữ muốn thu hút sự ủng hộ của các bậc phụ huynh đang cầm sổ ngân phiếu của họ). Thật vậy, khi tôi tham gia các ủy ban tìm kiếm để chọn một giảng viên mới, hiệu trưởng và trưởng khoa học thuật đã nói rõ rằng họ không muốn thuê một người "quá Công Giáo". Thực tế là, khi nữ tu giữ chức hiệu trưởng tuyên bố rời trường, tôi đã phải đấu tranh rất vất vả để tìm được một vị giám chức thay thế: bà ấy không muốn thuê một linh mục, mà thích một phụ nữ thuộc Giáo hội Trưởng lão hơn.
Cha Joseph Fessio, S.J., người sáng lập và biên tập viên của Ignatius Press, cho biết 90% các nhà thần học tại các trường đại học Công Giáo không chấp nhận giáo lý Công Giáo về tình dục và chức linh mục. (46) Tôi xin bổ sung thêm rằng một bộ phận lớn giảng viên và quản trị viên tại các trường cao đẳng và đại học Công Giáo có thái độ thù địch với giáo lý Công Giáo về hôn nhân, gia đình và tình dục. Họ làm được điều này vì các ứng viên quản trị viên và giảng viên có nhiều khả năng được sàng lọc về cam kết của họ đối với chủ nghĩa đa văn hóa và hai nguyên tắc song hành về tính bao dung và đa dạng hơn là lòng trung thành của họ với giáo lý Công Giáo.
Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đic-tô XVI nhận xét rằng “thần học luân lý Công Giáo đã sụp đổ, khiến Giáo hội không có khả năng tự vệ” trước những thay đổi trong xã hội liên quan đến tình dục. (47) Thay vì chống lại những xu hướng suy đồi nhất ở phương Tây, quá nhiều cơ sở giáo dục đại học Công Giáo đã chấp nhận chúng, tạo cớ cho các linh mục lạm dụng tình dục nhằm hợp pháp hóa hành vi của họ.
Các trường cao đẳng và đại học Công Giáo ngày càng trở nên ít Công Giáo và thế tục hơn bắt đầu từ giữa những năm 1960. Năm 1965, Đạo luật Giáo dục Đại học đã cung cấp nguồn tài trợ mới đáng kể cho các cơ sở giáo dục đại học, bao gồm cả các cơ sở tôn giáo. Nhiều nhà quản lý Công Giáo nhanh chóng kết luận rằng để nhận được tài trợ của liên bang, họ buộc phải thế tục hóa trường học của mình. Sự thật là họ đi đến kết luận này vì mong muốn hơn là nghĩa vụ.
Xu hướng thế tục hóa của các cơ sở Công Giáo lại được thúc đẩy mạnh mẽ hơn vào năm 1967, khi hai mươi sáu nhà giáo dục Công Giáo gặp nhau tại thị trấn Land O’ Lakes, Wisconsin. Nhiều viện trưởng của các trường cao đẳng và đại học Công Giáo lớn đã tham dự, cam kết thực hiện những cải cách lớn đồng thời khẳng định rằng “để thực hiện hiệu quả các chức năng giảng dạy và nghiên cứu, trường đại học Công Giáo phải có quyền tự chủ thực sự và tự do học thuật trước bất cứ quyền lực nào, dù là thế tục hay giáo sĩ, bên ngoài cộng đồng học thuật.” (48)
Quyền tự chủ mà các trường đại học coi trọng nhất là sự độc lập khỏi Giáo Hội Công Giáo. Họ chắc chắn không ngại việc tuân phục các tổ chức kiểm định giáo dục đại học bên ngoài. Kenneth Whitehead, một học giả Công Giáo nổi tiếng và quan chức giáo dục chính phủ trong chính quyền Reagan, đã tóm tắt những gì đã xảy ra: “Kết quả là hầu hết các trường cao đẳng và đại học Công Giáo ở Mỹ đã trở thành những tổ chức thế tục hóa, chỉ còn là Công Giáo trên danh nghĩa.” (49)
Khi tình hình trở nên tồi tệ hơn, Giáo hội, vốn luôn chậm chạp trong việc phản ứng, đã ban hành Bộ luật Giáo luật mới vào năm 1983. Một trong tám điều luật mới là tuyên bố rằng không trường đại học nào có thể tự xưng là “trường đại học Công Giáo” mà không nhận được sự đồng ý của cơ quan giáo hội có thẩm quyền và những người giảng dạy thần học phải có một ủy nhiệm (gọi là mandatum) để đảm bảo sự trung thành với giáo huấn của Giáo hội. Đúng như dự đoán, hầu hết các trường đại học Công Giáo đã phản đối, từ chối hợp tác.
Năm 1990, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành Ex Corde Ecclesiae, một văn kiện công nhận “quyền tự chủ định chế” và “tự do học thuật” của các trường Công Giáo, đồng thời nhấn mạnh rằng đây không phải là những nguyên tắc tuyệt đối và “phải được bảo tồn trong giới hạn của chân lý và lợi ích chung”. Mãi đến năm 1999, các giám mục Hoa Kỳ mới chính thức phê chuẩn văn kiện này. (50) Đến lúc đó, đã quá muộn để tạo ra tác động thực sự.
Nếu có một người nào đó trong nền giáo dục Công Giáo chịu trách nhiệm nhiều hơn cho việc thế tục hóa các trường Công Giáo, thì đó chính là cha Theodore Hesburgh, viện trưởng lâu năm của Đại học Notre Dame. Ông đã tạo dấu ấn từ sớm khi trở thành thành viên có ảnh hưởng nhất trong cộng đồng các nhà giáo dục ở Land O’ Lakes. Cha Hesburgh lập luận rằng các trường Công Giáo sẽ “mất rất nhiều trợ cấp của chính phủ nếu chúng ta tuân theo mệnh lệnh của Giáo hội”. Ông tin chắc rằng “quyền tự chủ định chế là điều thiết yếu cho sự hỗ trợ của liên bang.” Nhưng, như Whitehead đã chỉ ra, quan điểm này không phải do chính phủ áp đặt. Thay vào đó, nó thể hiện cách hiểu của Hesburgh về các yêu cầu để được hỗ trợ tài chính liên bang. (51) Dù sao đi nữa, quan điểm của Hesburgh đã được các viện trưởng của các trường cao đẳng và đại học Công Giáo trên toàn quốc chấp nhận và trích dẫn.
Tại sao Hesburgh lại đi đến kết luận này? Người viết tiểu sử của ông, học giả của Đại học Notre Dame, Cha Wilson “Bill” Miscamble, cho rằng đó là do một nhu cầu rất phổ biến của các nhà lãnh đạo Công Giáo: mong muốn được giới tinh hoa thế tục khẳng định. Miscamble nói: “Mong muốn được là một phần của giới tinh hoa quyền lực và ảnh hưởng đã ảnh hưởng đến cách ông lãnh đạo Notre Dame cũng như những lý tưởng mà ông theo đuổi”. Ông hỏi, “Liệu có thể nói rằng ngài đã quá quỳ gối trước thế giới không?” (52) Công bằng mà nói, không ai, kể cả Miscamble, phủ nhận vai trò của Hesburgh trong việc biến Notre Dame thành một tổ chức học thuật hàng đầu, và trường vẫn tuyển dụng một số học giả Công Giáo tận tâm nhất trong cả nước.
Nếu có một nhóm các trường cao đẳng và đại học Công Giáo được điều hành bởi những người háo hức lấy lòng giới tinh hoa thế tục, thì đó chính là nhóm các trường này. Trong giới tinh hoa thế tục, các trường học do Dòng Tên điều hành lại trở nên chào đón nhất các giảng viên và quản lý bất đồng chính kiến. Cũng không phải là bí mật gì khi Dòng Tên đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Những yếu tố này không độc lập với nhau. Để dẫn chứng một ví dụ, hãy xem xét những gì một sinh viên tại Trường Thần học Dòng Tên ở Berkeley đã nói về trải nghiệm của mình: “Thái độ của các tu sĩ Dòng Tên ở đây là ‘Chúng ta cần khẳng định cuộc sống đồng tính.’” Trường đã thực hiện lời hứa của mình bằng cách cho phép sinh viên tích lũy tín chỉ cho các khóa học “tâm linh đồng tính”. (53) Đối với một sinh viên bình thường, việc tiếp xúc với các khóa học này khó có thể dẫn đến hành vi lệch lạc, nhưng đối với một thanh niên vốn đã gặp nhiều rắc rối, những trải nghiệm như vậy có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn.
Trong số những nhà trí thức bất đồng chính kiến đầu tiên của Dòng Tên trong thời hiện đại có John J. McNeill, người nhận bằng Tiến sĩ từ Đại học Công Giáo Leuven ở Bỉ năm 1964. Là một người đồng tính, ông đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập Dignity, một nhóm Công Giáo bất đồng chính kiến đồng tính. Năm 1976, ông xuất bản cuốn sách "Giáo Hội và Người Đồng Tính", trong đó bác bỏ đạo đức tình dục của Công Giáo, đặc biệt là về đồng tính luyến ái. Vatican đã thu hồi sự chấp thuận đối với cuốn sách này hai năm sau đó. Năm 1986, Cha McNeill đã phản đối bức thư của Hồng Y Joseph Ratzinger gửi các giám mục về việc chăm sóc mục vụ cho người đồng tính, trong đó ngài gọi đồng tính luyến ái là "một rối loạn khách quan". Cuối cùng, vào năm 1988, Rome đã yêu cầu McNeill từ bỏ chức vụ của mình; sau đó ông bị đuổi khỏi Dòng Tên. (54)
Nếu McNeill chỉ đơn thuần là một linh mục phản bội, thì thậm chí có thể không đáng nhắc đến ông trong một cuộc thảo luận về mối liên hệ giữa sự bất đồng chính kiến và lạm dụng tình dục của linh mục. Nhưng thực tế không phải vậy. Sau khi cuốn sách năm 1976 của ông được phát hành, trong đó ông nói rằng "vấn đề nghiêm trọng nhất ở đây là lời kêu gọi các linh mục phải khiết tịnh", (55) một tuyên bố bảo vệ ông đã được đưa ra bởi các nhà thần học Công Giáo nổi tiếng, bao gồm Cha Richard McBrien của Đại học Notre Dame, Daniel McGuire của Đại học Marquette và Cha Charles Curran của Đại học Công Giáo Hoa Kỳ. Họ đã chỉ trích Vatican vì đã mạnh tay trấn áp, lại thích bám lấy vị linh mục nói rằng Chúa Kitô được thể hiện qua phong trào đồng tính luyến ái. (56)
Hãy nghĩ xem điều này diễn ra như thế nào trong thực tế. Nếu việc cho rằng các linh mục nên giữ khiết tịnh là không công bằng và nếu đúng là Chúa Kitô sẽ hài lòng với phong trào đồng tính luyến ái, thì lòng trung thành với đạo đức tình dục Công Giáo sẽ không phải là một mệnh lệnh của linh mục. Điều này chẳng phải sẽ khuyến khích những linh mục bị thu hút tình dục bởi các nam thanh niên sao?
Các nhà giáo dục Công Giáo chỉ trích các giám mục vì vai trò của họ trong vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ cần phải tự xem xét lại bản thân. Bằng cách dung túng, nếu không muốn nói là kích động, sự bất đồng chính kiến trong khuôn viên trường, đặc biệt là về các vấn đề tình dục, họ đã tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các linh mục bác bỏ những giáo lý này biện minh hoặc bào chữa cho hành vi săn mồi, trong một số trường hợp là của chính họ. Đó có thể không phải là ý định của những giảng viên bất đồng chính kiến này, nhưng họ không thể trốn tránh trách nhiệm về những tín hiệu mà họ gửi đến các linh mục đang gặp rắc rối.
Vai trò của các nhà hoạt động bên ngoài
Năm 1953, Bella Dodd, một người nhập cư từ Ý, đã làm chứng trước một ủy ban quốc hội về công việc của bà với Đảng Cộng sản. Bà không còn là thành viên của đảng và đã trở lại Giáo Hội Công Giáo (ĐC Fulton Sheen, khi đó là một giám mục, đóng vai trò quan trọng trong việc bà trở lại). Bà nói rằng những nỗ lực của bà nhằm làm suy yếu Hoa Kỳ là để phá hoại Giáo Hội Công Giáo. Trong thời gian hoạt động trong đảng, bà nói với ủy ban rằng, “hơn 1,100 người đã được đưa vào hàng giáo sĩ để phá hủy Giáo hội từ bên trong”. Người ta hy vọng rằng một số người trong số họ sẽ trở thành giám mục, thậm chí là cha xứ. Bà đã khiến các nghị sĩ kinh ngạc khi thừa nhận rằng “ngay bây giờ họ đang ở những vị trí cao nhất trong Giáo hội”. Vài năm sau, bà thú nhận rằng có bốn Hồng Y trong Vatican “đang làm việc cho những người Cộng sản”. (57)
Những người Cộng sản không chọn Giáo Hội Công Giáo một cách ngẫu nhiên. Họ biết rằng nếu muốn phá hủy các quyền tự do kinh tế và chính trị vốn có trong xã hội Mỹ, họ phải nhắm vào các trụ cột của nó, và điều đó chắc chắn bao gồm Giáo Hội Công Giáo—và gia đình. Ngay cả trước khi những người Cộng sản xuất hiện, những kẻ tìm cách làm suy yếu nền văn minh phương Tây luôn nhắm vào văn hóa Do Thái-Kitô giáo của nó, và mục tiêu hàng đầu của họ là hôn nhân và Giáo Hội Công Giáo.
Dodd chỉ là một ví dụ về những kẻ đã thâm nhập vào Giáo Hội Công Giáo với ý định phá hủy nó. Phương thức hoạt động của họ là kích động sự bất đồng trong Giáo hội, chứng tỏ rằng đây không hoàn toàn là vấn đề của các thế lực nội bộ; những người bên ngoài cũng đóng vai trò trong việc cổ vũ điều đó. Những người bên ngoài đó thường là các nhà hoạt động như Dodd, nhưng họ thường được truyền cảm hứng bởi các trí thức đã chấp nhận các triết lý và hệ tư tưởng vô thần. Những người sau này đã tìm cách chia rẽ Giáo hội từ lâu, bắt đầu từ thời Khai sáng, mặc dù các nhà hoạt động đương thời phối hợp và tinh vi hơn nhiều. Nếu có một nhà trí thức nào chịu trách nhiệm lớn nhất trong việc khơi dậy tinh thần hoạt động chống lại Giáo hội, thì đó chính là nhà Mác-xít người Ý đầu thế kỷ XX, Antonio Gramsci. Trong khi Marx hướng đến giai cấp công nhân nhà máy thành thị, giai cấp vô sản, để thực hiện cuộc cách mạng nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản, Gramsci lại ủng hộ cách tiếp cận văn hóa. Ông cho rằng chỉ bằng cách kiểm soát các trung tâm chỉ huy văn hóa như giáo dục, truyền thông và các định chế tôn giáo, thì việc lật đổ trật tự hiện hữu mới có thể thành công. Ông viết: “Trong trật tự mới, chủ nghĩa xã hội sẽ chiến thắng bằng cách trước tiên nắm bắt văn hóa thông qua việc thâm nhập vào các trường học, đại học, nhà thờ và phương tiện truyền thông bằng cách biến đổi ý thức của xã hội.” (58)
Gramsci lập luận rằng mục tiêu bá quyền văn hóa của ông sẽ diễn ra thông qua một “cuộc trường chinh” len lỏi vào mọi ngóc ngách của xã hội. Ông tin chắc rằng để thành công, Giáo Hội Công Giáo phải được biến đổi triệt để. Ông muốn thâm nhập vào Giáo hội để truyền bá những ý tưởng làm suy yếu các giáo lý truyền thống của Giáo hội. Ông tin rằng bằng cách thúc đẩy sự bất đồng chính kiến trong hàng ngũ giáo sĩ, ông sẽ khởi động sự sụp đổ cuối cùng của Giáo hội.
Năm 2008, các nguồn tin từ Vatican tiết lộ rằng Gramsci, người đã sáng lập Đảng Cộng sản ở Ý, đã trở lại Công Giáo trên giường bệnh vào năm 1937; ông thậm chí còn nhận các bí tích trước khi chết. Những người theo ông không hề nao núng, cho rằng phương pháp bá quyền văn hóa của Gramsci đã được những người theo chủ nghĩa duy nữ tiếp nhận và sử dụng hiệu quả để thúc đẩy quyền phá thai và chương trình nghị sự đồng tính luyến ái. (59)
Tại Hoa Kỳ, không có nhà hoạt động bên ngoài nào có ảnh hưởng lớn hơn đến Giáo Hội Công Giáo hơn Saul Alinsky. Alinsky sinh ra ở Chicago năm 1909 trong một gia đình Do Thái Chính thống, và ông trở thành người bất khả tri vào năm 1926. Được coi là môn đệ của Gramsci, ông tìm cách thay đổi xã hội một cách triệt để từ bên trong các định chế văn hóa của nó. Là cha đẻ của “tổ chức cộng đồng”, ông đã dành cả đời để thành lập “các tổ chức nhân dân” có thể đưa ra những yêu cầu hiệu quả đối với các chủ nhân, chủ đất và các nhà lãnh đạo chính phủ. (60) Cuối cùng, những người không hài lòng với giáo lý của Giáo hội đã noi theo gương ông và thành lập các nhóm tương tự để đưa ra yêu cầu đối với các nhà lãnh đạo Giáo hội.
Mặc dù chưa bao giờ gia nhập Đảng Cộng sản, Alinsky đã làm việc với nhiều người Cộng sản và nói tích cực về những nỗ lực của họ trong số những người bị áp bức. Giống như nhiều người trong số họ, Alinsky tin rằng “mục đích biện minh cho hầu hết mọi phương tiện”. Tương tự, ông tin rằng “chân lý là tương đối và thay đổi”. (61)
Alinsky đã lấy lòng các thành viên của giáo sĩ Công Giáo khi ông hợp tác với Joseph Meegan để thành lập Hội đồng Khu phố Back of the Yards (BYNC) vào năm 1939. (62) Anh trai của Meegan là một linh mục và là thư ký của Giám Mục Phụ Tá Bernard Sheil. Tin rằng sứ mệnh của BYNC phù hợp với giáo lý xã hội Công Giáo, Sheil đã chúc phúc cho nó và giữ chức chủ tịch danh dự. Ông mô tả tác phẩm năm 1946 của Alinsky, Reveille for Radicals, là “một cuốn cẩm nang cứu mạng cho sự cứu rỗi của nền dân chủ”. (63)
Một giáo sĩ khác ở Chicago chịu ảnh hưởng của Alinsky là Đức ông John Egan, “người có công trình nghiên cứu về các vấn đề quyền công dân, thay đổi khu phố và nghèo đói đã định hình các nỗ lực của Giáo hội trong những lĩnh vực đó trên toàn quốc”. (64) Cha Egan đã làm việc trong tổ chức Catholic Action khi một bức thư năm 1954 từ Jacques Maritain giới thiệu ông với Alinsky. (65) Bắt đầu từ năm 1958, Cha Egan điều hành Văn phòng Các vấn đề Đô thị của Tổng giáo phận Chicago, và cha đã hợp tác chặt chẽ với Alinsky để tổ chức các nhóm có thể giải quyết các vấn đề về nhà ở, hội nhập và các vấn đề khác ở khu vực nội thành. Sự hợp tác của họ “đã đặt nền móng cho những gì hiện nay là một mô hình quốc gia về các dự án tổ chức cộng đồng dựa trên các liên minh liên tôn giáo của các giáo đoàn”. (66) Egan đã sử dụng quỹ của giáo phận để chi trả cho ba tổ chức của Alinsky ở Chicago vào những năm 1960 và là “người đầu tiên phát triển việc tổ chức cộng đồng như một sứ mệnh và chức năng chính thức của đời sống giáo phận”. (67) Chính Egan là người đã yêu cầu Alinsky giải thích các chiến thuật tổ chức cộng đồng của ông trong cuốn sách Rules for Radicals [Quy tắc cho những người cấp tiến]. Trong đó, Alinsky thừa nhận “người cấp tiến đầu tiên được biết đến trong lịch sử loài người đã nổi dậy chống lại định chế và làm điều đó hiệu quả đến mức ông ta ít nhất đã giành được vương quốc của riêng mình —Lucifer.” (68)
Đến năm 1976, hoạt động theo kiểu Alinsky đã trở thành xu hướng chủ đạo trong Giáo Hội Công Giáo. Năm đó, Hội nghị Giám mục Công Giáo Quốc gia đã triệu tập Hội nghị Kêu gọi Hành động để giúp thực hiện mệnh lệnh của Công đồng Vatican II đối với giáo dân trong việc đấu tranh cho công lý trên thế giới, và Đức ông Egan đồng chủ trì các phiên họp toàn thể. Từ ngày 21 đến 23 tháng 10, khoảng 1,300 đại biểu, linh mục, tu sĩ và giáo dân từ 152 giáo phận, cùng với 1,100 quan sát viên từ khắp cả nước, đã gặp nhau tại Detroit để thảo luận về nạn phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính và nghèo đói trong xã hội hiện đại. Khi hội nghị kết thúc, đại hội tuyên bố rằng để giải quyết những vấn đề này “một cách đáng tin cậy, Giáo hội phải đánh giá lại lập trường của mình về các vấn đề như độc thân cho linh mục, giáo sĩ chỉ dành cho nam giới, đồng tính luyến ái, kiểm soát sinh sản và sự tham gia của mọi bình diện trong Giáo hội vào các quyết định quan trọng.” (69)
Đức Hồng Y John Krol, tổng giám mục Philadelphia, tuyên bố, “Những kẻ nổi loạn đã chiếm lấy hội nghị của chúng ta.” (70) Thật đáng kinh ngạc khi nghĩ rằng Alinsky có thể thâm nhập vào Giáo hội nhiều đến vậy. Hầu hết thành công của ông diễn ra vào những năm 1970, khi Giáo hội đang trong tình trạng hỗn loạn và lạm dụng tình dục của giáo sĩ tăng vọt. Alinsky qua đời năm 1972, một năm sau khi cuốn Rules for Radicals được xuất bản, vì vậy ông không sống để chứng kiến mức độ hiệu quả của mình trong việc gây ra sự tàn phá.
Ghi chú
(1) Enrique Rueda, Mạng lưới đồng tính luyến ái: Đời sống riêng tư và chính sách công (Old Greenwich, Conn.: Devin Adair, 1982), 325.
(2) Ibid., 326.
(3) David France, Cha chúng ta: Đời sống bí mật của Giáo Hội Công Giáo trong thời đại tai tiếng (New York: Broadway Books, 2004), 111-13.
(4) Rueda, Mạng lưới đồng tính luyến ái, 338-40.
(5) Lời kêu gọi hành động: 25 năm tâm linh và công lý, bản tin kỷ niệm Lời kêu gọi hành động, tháng 10 năm 2001.
(6) Peter Steinfels, “Các giám mục và những người theo chủ nghĩa tự do chia rẽ về chương trình nghị sự”, New York Times, ngày 11 tháng 11 năm 1991, A10.
(7) Jay McNally, “Cuộc trưng cầu dân ý ‘Chúng ta là Giáo hội’ là một thất bại lớn, Sr.Fiedler thừa nhận”, Wanderer, ngày 27 tháng 11 năm 1997, trang 6.
(8) David Morrison, “Chúng ta là Giáo hội: ‘Có vẻ như đó là một ý tưởng hay’”, Our Sunday Visitor, ngày 7 tháng 12 năm 1997, trang 21.
(9) Steve Warner, “Các tổ chức từ thiện Công Giáo bất đồng chính kiến: Thay đổi điều không thể thay đổi”, Capital Research Center, ngày 12 tháng 12 năm 2017, https://capitalresearch.org/article/dissenting-catholic-charities-1/.
(10) Gabriele Kuby, “Lạm dụng: ‘Đừng để lòng bạn phiền muộn’”, LifeSiteNews, ngày 20 tháng 2 năm 2019, https://www.lifesitenews.com/wpcontent/uploads/2021/03/Abuse_by_Gabriele_Kuby.pdf.
(11) Rueda, Mạng lưới đồng tính luyến ái, 323-24.
(12) Ibid., 330.
(13) “Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ làm rõ tình trạng của Bộ New Ways”, ngày 12 tháng 2 năm 2010, Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ,
https://www.usccb.org/news/2010/usccb-president-clarifies-status-newways-ministry.
(14) Rueda, Mạng lưới đồng tính luyến ái, 353-54.
(15) Ibid., 308.
(16) Ibid., 293.
(17) Ibid., 359.
(18) Kevin Eckstrom, “Cha Bob Nugent, bị bịt miệng vì công việc của ông với người Công Giáo đồng tính, qua đời ở tuổi 76”, National Catholic Reporter, ngày 3 tháng 1 năm 2014, https://www.ncronline.org/news/people/fr-bob-nugent-silenced-his-workgay-catholics-dies-76.
(19) “Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ làm rõ tình trạng của Bộ New Ways”, Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, ngày 12 tháng 2 năm 2010,
https://www.usccb.org/news/2010/usccb-president-clarifies-status-newways-ministry.
(20) “Bài xã luận: Sự lãnh đạo thất bại của các Giám mục Hoa Kỳ là rõ ràng”, National Catholic Reporter, ngày 22 tháng 11 năm 2019,
http://www.ncronline.org/news/opinion/editorial-failed-leadership-usbishops-clear.
(21) “Nhân vật nổi bật của năm 2019 do NCR bình chọn: Nancy Pelosi”, National Catholic Reporter, ngày 20 tháng 12 năm 2019,
http://www.ncronline.org/print/news/opinion/ncrs-2019-newsmaker-yearnancy-pelosi.
(22) “CFC công bố Chủ tịch mới, nhà lãnh đạo tư tưởng Công Giáo Jamie Manson”, Catholics for Choice, ngày 29 tháng 9 năm 2020,
http://www.catholicsforchoice.org/cfc-announces-new-president-jamiemanson.
(23). Tập này được đề cập trong Bill Donohue, Phá hoại thế tục: Cách những người theo chủ nghĩa tự do đang phá hủy tôn giáo và văn hóa ở Mỹ (New York: FaithWords, 2009), trang 167.
(24). Paul Shaughnessy, “Vấn đề linh mục đồng tính”, Catholic World Report (tháng 11 năm 2000), đăng trên Catholic Culture, https://www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm?recnum=12047.
(25). Nancy Frazier O’Brien, “Ủy ban Giáo lý nói cuốn sách năm 2008 sai quan điểm về các vấn đề đạo đức”, Catholic News, ngày 22 tháng 9 năm 2010, https://catholicnews.sg/2010/10/18/doctrine-committee-says-2008-bookerrs-in-views-on-moral-issues/.
(26) Regina Schulte, “Về vấn đề tình dục, hệ thống phẩm trật đã chiếm đoạt toàn bộ chức vụ giảng dạy”, National Catholic Reporter, ngày 15 tháng 10 năm 2010, http://www.ncronline.org/print/news/parish/sexuality-hierarchy-hasusurped-entire-teaching-office.
(27) Ann Carey, “Mọi việc đang diễn ra như thế nào?”, Catholic World Report (tháng 1 năm 2011): 18-21.
(28) Anne Hendershott, “Khi các thành viên của báo chí Công Giáo làm thất vọng Giáo hội”, Crisis Magazine, ngày 15 tháng 9 năm 2014, http://www.crisismagazine.com/2014/catholic-press-fails-church.
(29) Carey, “Mọi việc đang diễn ra như thế nào?”
(30) Ann Carey, “Trong sự phủ nhận”, Catholic World Report (tháng 11 năm 2009), đăng tải trên Catholic Culture, https://www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm?recnum=9230.
(31) Ibid.
(32) Tom Fox, “Các nữ tu không tuân thủ nghiên cứu của Vatican”, National Catholic Reporter, ngày 24 tháng 11 năm 2009,https://www.ncronline.org/news/global-sisters-report/women-religious-notcomplying-vatican-study.
(33). Bộ Giáo lý Đức tin, “Đánh giá Giáo lý của Hội nghị Lãnh đạo các Nữ tu”, ngày 18 tháng 4 năm 2012, http://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/documents/rc_con _cfaith_doc_20120418_assessment-lcwr_en.html.
(34). “Bài xã luận: Sự an ủi về LCWR trở nên sáo rỗng trong một Giáo hội không lành mạnh”, National Catholic Reporter, ngày 8 tháng 5 năm 2012, https://www.ncronline.org/news/opinion/editorial-consolation-lcwr-ringshollow-unhealthy-church.
(35). “Nói sự thật với Vatican”, New York Times, ngày 18 tháng 9, 2012, A24.
(36) Eric Marrapodi, “Cuộc đấu tranh của các nữ tu với Vatican làm nổi bật cuộc đấu tranh toàn cầu của Công Giáo”, CNN, ngày 30 tháng 5 năm 2012,
https://religion.blogs.cnn.com/2012/05/30/nuns-fight-with-vaticanhighlights-catholicisms-global-struggle.
(37) George Weigel, “Vatican và các nữ tu”, National Review, ngày 23 tháng 4 năm 2012, https://www.nationalreview.com/2012/04/vatican-and-sistersgeorge-weigel/.
(38) James Hitchcock, “Sự thất bại của Công Giáo tự do”, Catholic World Report (15 tháng 5 năm 2011), http://www.catholicworldreport.com/2011/05/15/the-failure-of-liberalcatholicism.
(39) Jim Graves, “Các dòng tu đang cạn kiệt chỗ”, Catholic Herald (phiên bản Hoa Kỳ), 18 tháng 1 năm 2019, 17.
(40) “Hướng dẫn truyền thông về các nhóm Công Giáo giả mạo”, Catholic League, 9 tháng 9 năm 2015, https://www.catholicleague.org/media-guide-to-phonycatholic-groups/.
(41) France, Kinh Lạy Cha, 115.
(42) Jeannine Gramick, “Tìm kiếm sự đồng cảm cho Shanley”, National Catholic Reporter, 14 tháng 1 năm 2005.
(43) Maureen Orth, “Lòng bác ái của Gramick dành cho Shanley là hơn cả những gì ông ta xứng đáng”, National Catholic Reporter, ngày 14 tháng 1 năm 2005.
(44) Jim Russell, “Cha James Martin ‘phong thánh’ cho Sơ Jeannine Gramick”, Crisis Magazine, ngày 27 tháng 6 năm 2017, http://www.crisismagazine.com/2017/frjim-martin-canonizes-sr-jeannine-gramick.
(45) Hitchcock, “Sự thất bại của Công Giáo tự do”.
(46) Richard Ostling, “Các học giả Hoa Kỳ tự hỏi liệu Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI có thực hiện thêm hành động nào chống lại những người bất đồng chính kiến hay không”, Associated Press, ngày 12 tháng 5 năm 2005.
(47) Đức Bê-nê-đíc-tô XVI, “Toàn văn bài phát biểu của Đức Bê-nê-đíc-tô XVI: Giáo hội và vụ bê bối lạm dụng tình dục”, Catholic World Report, ngày 10 tháng 4 năm 2019, http://www.catholicworldreport.com/2019/04/10/full-text-of-benedict-xvithe-church-and-the-scandal-of-sexual-abuse.
(48) Kenneth D. Whitehead, “Giáo dục Công Giáo: Giáo dục đại học tại Hoa Kỳ”, trong Michael Coulter và cộng sự, Bách khoa toàn thư về tư tưởng xã hội Công Giáo, khoa học xã hội và chính sách xã hội, tập 1 (Lanham, Md.:Scarecrow Press, 2007), 349-51.
(49) Ibid.
(50) Ibid.
(51) Kenneth Whitehead, Các trường đại học Công Giáo và nguồn tài trợ liên bang (San Francisco: Ignatius Press, 1988), 17-18, 32-33.
(52) Heidi Schlumpf, “Tác giả và hội thảo tranh luận về cuốn sách gây tranh cãi về Cha Hesburgh của Đại học Notre Dame”, National Catholic Reporter, ngày 11 tháng 5 năm 2019,
http://www.ncronline.org/print/news/people/author-panel-debatecontroversial-book-about-notre-dames-fr-hesburgh.
(53) Michael Rose, Tạm biệt những người đàn ông tốt (Washington, D.C.: Regnery, 2002), 22.
(54) Tom Fox, “Thánh bổn mạng của người Công Giáo LGBT, John J. McNeill, 90 tuổi, qua đời”, National Catholic Reporter, ngày 24 tháng 9 năm 2015,
http://www.ncronline.org/news/people/patron-saint-lgbt-catholics-john-jmcneill-90-dies.
(55) France, Kinh Lạy Cha, 385.
(56) Rueda, Mạng lưới Đồng tính luyến ái, 305.
(57) Eleonore Villarrubia, “Bella Dodd—Từ Cộng sản đến Công Giáo”, Catholicism.org, ngày 31 tháng 8 năm 2010, https://catholicism.org/bella-dodd%E2%80%94-from-communist-to-catholic.html. Xem thêm sách của Dodd, Trường học Bóng tối.
(58) Roger Kiska, “Cuộc Trường Chinh của Antonio Gramsci xuyên suốt Lịch Sử”, Tôn Giáo & Tự Do, ngày 12 tháng 12 năm 2019, https://www.acton.org/religionliberty/volume-29-number-3/antonio-gramscis-long-march-throughhistory.
(59) “Người sáng lập Đảng Cộng sản Ý cải đạo trước khi chết”, Cơ quan Tin tức Công Giáo, ngày 2 tháng 12 năm 2008, https://www.catholicnewsagency.com/news/founder_of_italian_communist_party_converted_before_death.
(60) Patrick J. Henry, “Nghiên cứu về Lãnh đạo của một ‘Tổ chức Nhân dân’”, 4-7 (luận văn thạc sĩ, Đại học Loyola, 1959), https://ecommons.luc.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=2586&context=luc_theses.
(61) Xem video A Wolf in Sheep’s Clothing của EWTN, được phát sóng trên kênh này vào năm 2016. Video có sẵn trên trang web của EWTN.
(62) Lawrence J. Engel, “Ảnh hưởng của Saul Alinsky đối với Chiến dịch Phát triển Con người”, Nghiên cứu Thần học 59, số 47 (1998): 6, http://cdn.theologicalstudies.net/59/59.4/59.4.3.pdf.
(63) Henry, “Một nghiên cứu”, 9.
(64) Peter Steinfels, “John J. Egan, Linh mục và Nhà vận động Nhân quyền, Qua đời ở tuổi 84”, New York Times, ngày 20 tháng 5 năm 2001,
https://www.nytimes.com/2001/05/22/us/john-j-egan-priest-and-rightsadvocate-is-dead-at-84.html.
(65) Engel, “Ảnh hưởng của Saul Alinsky”, 7.
(66) Steinfels, “John J. Eagan”.
(67) Engel, “Ảnh hưởng của Saul Alinsky”, 8.
(68) Saul D. Alinsky, Quy tắc dành cho những người cấp tiến (New York: Vintage Books, 1989), 4.
(69) “Lịch sử”, trang web Call to Action, https://www.ctausa.org/history.
(70) Vincent P. Miceli, “Detroit: Kêu gọi Cách mạng trong Giáo hội” Tập san Giảng lễ và Mục vụ, Tháng 3 1977, in lại trong Văn hóa Công Giáo, https://www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm? recnum=4544.