1. Đức Cha James Conley - Chiến tranh chính nghĩa cơ bản: Giáo lý Công Giáo cho thời điểm nguy hiểm

Đức Cha James Douglas Conley (sinh ngày 19 tháng 3 năm 1955) là giám mục của Giáo phận Lincoln ở Nebraska từ ngày 20 Tháng Mười Một, 2012. Trước đó, ngài từng là Giám Mục Phụ Tá tại Tổng giáo phận Denver ở Colorado từ năm 2008 đến năm 2012.

Trên tờ Southern Nebraska Register, ngài có bài viết nhan đề “Just War 101: Catholic Teaching for a Dangerous Moment”, nghĩa là “Chiến tranh chính nghĩa cơ bản: Giáo lý Công Giáo cho thời điểm nguy hiểm”.

Câu chuyện về Cha George Zabelka, vị linh mục quân đội đã ban phước cho phi hành đoàn Enola Gay trước khi Hiroshima nổ tan tành, và là người đã dành phần đời còn lại để đấu tranh công khai với điều đó, là một câu chuyện mà tôi chỉ mới biết đến gần đây.

Cha George Zabelka là một linh mục Công Giáo phục vụ trong Không quân Hoa Kỳ và là linh mục phụ trách các phi công thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Vào tháng 8 năm 1945, ngài được yêu cầu ban phước lành cho phi hành đoàn của chiếc Enola Gay, là chiếc máy bay đã thả quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Hiroshima, để cầu mong sự an toàn cho họ. Đây là một hành động mà ngài đã thực hiện hàng trăm, thậm chí hàng ngàn lần. Trên thực tế, các linh mục được yêu cầu ban phước lành vì nhiều lý do khác nhau. Ban phước lành cho mọi người là một trong những ân huệ mà chúng tôi, những linh mục, được đặc ân thực hiện.

Chỉ vài ngày sau, Cha Zabelka đã an ủi một phi công từng thực hiện chuyến bay trinh sát tầm thấp trên thành phố Nagasaki ngay sau khi quả bom “Fat Man” phát nổ. Người phi công mô tả cảnh hàng ngàn thi thể cháy sém, biến dạng quằn quại trên mặt đất trong cơn hấp hối, trong khi những người còn sống sót thì lang thang vô định trong trạng thái sốc – da thịt bị thiêu đốt, tan chảy và bong tróc. Lời miêu tả của người phi công đã khơi dậy một tiếng kêu nghẹn ngào từ sâu thẳm tâm hồn Cha Zabelka: “Lạy Chúa, chúng con đã làm gì thế này?”

Trong 20 năm tiếp theo, Cha Zabelka dần dần tin rằng mình đã sai lầm nghiêm trọng, rằng ngài đã phủ nhận chính nền tảng đức tin của mình khi ủng hộ về mặt đạo đức và tôn giáo cho việc ném bom Hiroshima và Nagasaki.

Gánh nặng đạo đức của chiến tranh đặt lên vai con người chính vì con người mang trách nhiệm đạo đức, và điều này là hoàn toàn đúng đắn. Việc đọc về một vị linh mục đã đấu tranh với lương tâm mình và cuối cùng có đủ can đảm để lên tiếng phản đối hành động của đất nước mình, là một khoảnh khắc của ân sủng tiên tri và sự chính trực về mặt đạo đức.

Với tư cách là một giám mục của Giáo Hội Công Giáo, và là người con tự hào của một cựu chiến binh Thế chiến II từng phục vụ với vai trò xạ thủ trên Hàng Không Mẫu Hạm ở chiến trường Thái Bình Dương, điều quan trọng đối với tôi là phải cân nhắc kỹ lưỡng xem liệu ngày hôm nay có phải là một thời điểm lịch sử và là thời điểm then chốt để tôi lên tiếng rõ ràng với tư cách là đại diện của Giáo Hội Công Giáo hay không. Và mặc dù đôi khi khó có thể biết liệu mình có đang sống trong một thời điểm lịch sử hay không khi nó đang diễn ra, nhưng chắc chắn tôi cảm thấy như vậy ngay lúc này, đặc biệt là khi có sự trùng hợp của hai sự kiện mà tôi cho là có tác động sâu rộng và lâu dài. Và tôi cảm thấy có trách nhiệm đặc biệt phải lên tiếng rõ ràng về giáo lý và tầm nhìn của Giáo hội vào thời điểm này.

Thứ nhất là xung đột quân sự với Iran. Tháng Giêng vừa qua, các bản tin đáng tin cậy nhất cho thấy lực lượng an ninh Iran đã giết hại hàng ngàn người biểu tình ôn hòa trong cuộc nổi dậy lớn nhất kể từ cuộc cách mạng Hồi giáo. Ngày 28 tháng 2, Israel và Hoa Kỳ đã tấn công Iran bằng một loạt các cuộc không kích từ máy bay, hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa. Mặc dù Iran đã là một thế lực xấu xa đáng sợ ở Trung Đông trong nhiều thập niên, tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố ủy nhiệm đã giết hại nhiều người (bao gồm cả binh lính Mỹ), nhưng liệu có mối đe dọa rõ ràng, cận kề nào từ Iran vào tháng Hai không, đặc biệt là khi tháng Sáu năm ngoái Hoa Kỳ đã phá hủy phần lớn cơ sở hạ tầng chiến tranh của Iran? Điều này còn gây tranh cãi. Liệu họ có đang bắt đầu xây dựng lại các cơ sở hạt nhân mà chúng ta đã ném bom hồi tháng Sáu năm ngoái không? Có lẽ là có. Liệu họ hiện có khả năng phóng vũ khí hạt nhân vào lãnh thổ Mỹ hoặc các căn cứ của Mỹ trong khu vực không? Có lẽ là không. Chúng ta có cần phải đợi đến khi kẻ thù sắp tấn công chúng ta mới hành động không? Chắc chắn là không.

Thêm vào đó, mục tiêu của cuộc xung đột — từ góc nhìn của Hoa Kỳ — vẫn chưa rõ ràng và đôi khi thay đổi từng ngày, tùy thuộc vào phát ngôn nhân trên truyền thông: chúng ta đã nghe nói đến “đầu hàng vô điều kiện”, “thay đổi chế độ”, và tấn công vào các chương trình hạt nhân và hỏa tiễn đạn đạo. Giống như nhiều tình huống trong chiến tranh, cuộc xung đột này rất năng động và đe dọa lôi kéo nhiều quốc gia khác vào cuộc. Thật vậy, Hoa Kỳ đã kêu gọi các đồng minh giúp chúng ta mở lại eo biển Hormuz — hiện đang bị phong tỏa bởi các mối đe dọa từ Iran về việc phá hủy các tàu thuyền đi qua — nhất là vì điều này đang đẩy giá dầu và lạm phát trên toàn cầu lên cao.

Tình huống thứ hai là xung đột pháp lý/đạo đức giữa Anthropic (nhà phát triển hệ thống AI “Claude” nổi tiếng) và Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ. Quân đội Hoa Kỳ đã sử dụng Claude trong nhiều chiến dịch của mình, rất có thể là trong việc bắt giữ nguyên thủ quốc gia Venezuela, nhưng Anthropic lo ngại Claude sẽ bị sử dụng cho hai mục đích mà họ cho là phi đạo đức: thứ nhất, là vũ khí tự động do AI điều khiển (giết người mà không cần sự giám sát của con người) và thứ hai, là việc giám sát hàng loạt người Mỹ (đặc biệt là bằng cách giải mã dữ liệu, chẳng hạn như xác định hồ sơ cá nhân trong dữ liệu vốn được giữ bí mật). Bộ Chiến tranh đã cố gắng thay đổi hợp đồng để buộc Anthropic cho phép điều này, và khi công ty từ chối, họ đã cố gắng tiêu diệt công ty bằng cách chỉ định nó là “rủi ro chuỗi cung ứng”, đây là lần đầu tiên một công ty của Hoa Kỳ bị chỉ định như vậy.

Khi suy nghĩ về cách một tầm nhìn đạo đức Công Giáo sẽ giải quyết hai vấn đề này, chúng ta hãy cùng tìm hiểu một chút về “Lý thuyết chiến tranh chính nghĩa cơ bản”, đặc biệt là bằng cách tập trung vào những giáo huấn mà chúng ta tìm thấy trong Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo.

Giáo hội của chúng ta không phải là một giáo hội theo chủ nghĩa hòa bình tuyệt đối và không bắt buộc phải từ bỏ mọi bạo lực. Giáo Hội Công Giáo dạy rằng mỗi người có quyền tự vệ chống lại kẻ xâm lược bất công, thậm chí có quyền sử dụng vũ khí gây chết người nếu cần thiết. Quyền tự vệ này cũng áp dụng cho các quốc gia khi đối mặt với một quốc gia xâm lược bất công, nhưng Giáo hội kiên quyết phản đối chiến tranh. Giáo lý Công Giáo, điều 2307 nói: “Điều răn thứ năm cấm việc cố ý hủy diệt sự sống con người. Vì những điều ác và bất công mà mọi cuộc chiến tranh mang lại, chúng ta phải làm mọi điều có thể để tránh nó.” Đức Thánh Cha Lêô XIV hiện tại của chúng ta gần đây đã nhiều lần nhấn mạnh giáo huấn này.

Giáo Hội Công Giáo có lịch sử lâu dài trong việc phát triển Lý thuyết Chiến tranh Chính nghĩa, bắt nguồn từ các tác phẩm của Thánh Augustinô vào thế kỷ thứ 4, và được Thánh Thomas Aquinas phát triển thêm vào thế kỷ 13. Khuôn khổ của một cuộc chiến tranh chính nghĩa đòi hỏi chiến tranh phải là biện pháp cuối cùng, được tuyên bố bởi một cơ quan có thẩm quyền, có lý do chính đáng và phải tương xứng. Thuật ngữ Latinh cho điều này là jus ad bellum, sự biện minh hoặc lý do để tiến hành chiến tranh.

Theo Điều 2309 của Sách Giáo Lý Công Giáo, để chiến tranh được coi là chính nghĩa, cần phải đáp ứng các điều kiện sau:

(1) Thiệt hại do kẻ xâm lược gây ra phải kéo dài, nghiêm trọng và chắc chắn

(2) Tất cả các biện pháp khác để chấm dứt nó đều phải được chứng minh là không thực tế hoặc không hiệu quả

(3) Phải có triển vọng thành công nghiêm chỉnh

(4) Việc sử dụng vũ khí không được gây ra những tai họa và rối loạn nghiêm trọng hơn tai họa cần phải loại bỏ (nguyên tắc tương xứng)

Khi được xem xét nghiêm chỉnh, đây là những quy định rất nghiêm ngặt — những quy định này, một lần nữa, phản ánh sự ác cảm sâu sắc của Công Giáo đối với chiến tranh. Vẫn còn những câu hỏi đạo đức nghiêm trọng về một số khía cạnh của cuộc xung đột Iran, đặc biệt là khi nói đến việc liệu nó có thực sự là biện pháp cuối cùng hay không (2) và liệu chúng ta có triển vọng thành công nghiêm chỉnh hay không (3), và thậm chí liệu chúng ta có một nhận thức rõ ràng về thành công trông như thế nào.

Khía cạnh thứ hai của Lý thuyết Chiến tranh Chính nghĩa Công Giáo đôi khi được gọi là jus in bello — luật điều chỉnh cách thức tiến hành chiến tranh. Ngay cả khi cuộc xung đột ở Iran được coi là chính nghĩa theo jus ad bellum — một vấn đề vẫn còn được các nhà thần học luân lý Công Giáo tranh luận sôi nổi — chúng ta vẫn cần bảo đảm rằng bản thân cuộc chiến sử dụng các phương tiện chính nghĩa. Sách Giáo Lý Công Giáo từ điều 2312 đến 2314 đưa ra cho chúng ta hai yêu cầu cốt lõi:

(1) Phải có sự phân biệt giữa dân thường vô tội và những người tham chiến: Không được cố ý tấn công vào những người không tham chiến và dân thường.

(2) Tính tương xứng: Thiệt hại gây ra phải tương xứng với mục tiêu quân sự chính đáng.

Bộ Chiến tranh đương nhiên giữ bí mật về phần lớn công nghệ mà họ đang sử dụng để tiến hành chiến tranh, nhưng phản ứng của họ đối với Anthropic cho thấy ít nhất họ muốn tạo điều kiện để sử dụng vũ khí tự động, loại vũ khí có thể giết người mà không cần sự can thiệp trực tiếp của con người vào việc xác định xem mục tiêu có phải là người vô tội hay không và liệu lực lượng sử dụng có tương xứng với mục tiêu quân sự hay không.

Nhưng Giáo hội khẳng định rõ ràng rằng những vũ khí như vậy không thể được sử dụng một cách chính đáng, ngay cả trong một cuộc chiến chính nghĩa, và Anthropic có lý khi phản đối điều này. Như nhà thần học luân lý Công Giáo Charlie Camosy đã nói gần đây, những hành động gây chết người trong chiến tranh “đòi hỏi con người phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức – và phải gánh vác trách nhiệm đạo đức – để các hành động trong chiến tranh được coi là chính đáng. “ Camosy được trích dẫn trong một bài báo về một nhóm các nhà thần học luân lý Công Giáo đã đệ trình bản kiến nghị ủng hộ lập trường đạo đức của Anthropic. Họ viết rằng việc sử dụng vũ khí tự động do trí tuệ nhân tạo điều khiển, theo định nghĩa, không đáp ứng các điều kiện về jus ad bello hay luật chiến tranh cần thiết để các hành động chiến tranh được coi là hợp pháp về mặt đạo đức trong tư tưởng Công Giáo. Sự tham gia của con người là rất quan trọng, bởi vì các phán đoán về tính tương xứng và sự phân biệt đối xử là cần thiết và đòi hỏi sự phán đoán của con người, chứ không chỉ đơn thuần là sự khớp mẫu của trí tuệ nhân tạo. Vũ khí tự động không có lương tâm đạo đức. Họ trích dẫn Vatican, các giáo hoàng và Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ để ủng hộ lập trường phản đối vũ khí tự động của mình.

Thật đáng mừng khi thấy các học giả Công Giáo và các tổ chức của Giáo hội đứng lên vào thời điểm này, bởi vì, một lần nữa, dường như đây là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử. Liệu Hoa Kỳ có một lần nữa sa lầy vào một cuộc chiến tranh khủng khiếp ở Trung Đông, một cuộc chiến với mục tiêu không rõ ràng và các lựa chọn phi bạo lực không khả thi? Liệu cuộc chiến đó, và các cuộc chiến khác trong tương lai, sẽ được tiến hành bằng các đàn máy bay điều khiển từ xa và các loại vũ khí tự động khác giết người mà không có sự giám sát đạo đức của con người không?

Người ta có thể đưa ra lập luận theo chủ nghĩa vị lợi, theo chủ nghĩa hậu quả rằng – nếu không hành động theo những hướng này – những điều tồi tệ sẽ xảy ra. Iran sẽ tiếp tục tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố trên khắp thế giới. Trung Quốc và các quốc gia khác sẽ sử dụng vũ khí tự động và vượt mặt chúng ta trên chiến trường. Nhưng người Công Giáo không thể chấp nhận những lập luận như vậy. Có những tiêu chuẩn nhất định mà chúng ta phải tuân thủ, bất kể hậu quả ra sao. Chấm hết.

Cha George Zabelka qua đời năm 1992, nhưng thông điệp của ngài, trong bài diễn văn nhân kỷ niệm 40 năm vụ ném bom Nhật Bản, vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay:

“Chiến tranh hiện tại, trước đây và mãi mãi sẽ là tin xấu. Tôi đã ở đó. Tôi đã chứng kiến chiến tranh thực sự. Những người đã từng chứng kiến chiến tranh thực sự sẽ xác nhận điều tôi nói. Tôi bảo đảm với các bạn, chiến tranh không phải đến từ Chúa Kitô. Đó không phải là con đường của Chúa Kitô.”

Như tôi đã nói gần đây, tôi bày tỏ sự đoàn kết với Đức Giáo Hoàng Lêô và Đức Tổng Giám Mục Paul Coakley, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, trong việc kêu gọi các tín hữu Công Giáo và tất cả những người thiện chí cầu nguyện cho một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột ở Iran. Thêm sự tàn phá chỉ dẫn đến thêm nhiều sinh mạng vô tội bị thiệt mạng trong cuộc giao tranh. Xin hãy cầu nguyện để những người ở vị trí lãnh đạo có thể tìm ra con đường tiến lên phía trước mà không gây thêm sự tàn phá và đổ máu.


Source:National Catholic Register

2. Liệu Đức Giáo Hoàng và Tổng thống Trump có gặp mặt trực tiếp không? Câu trả lời của Đức Hồng Y Parolin

Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh của Đức Giáo Hoàng, lên tiếng về những lời chỉ trích gần đây của Tổng thống Trump và những tranh chấp đang diễn ra với Giáo hội tại Đức.

Bên lề một sự kiện ở Rôma hôm thứ Tư, Hồng Y Quốc vụ khanh Pietro Parolin đã trả lời các câu hỏi của báo chí về những tin tức nhạy cảm nhất trong tuần này.

Đề cập đến cuộc gặp dự kiến vào thứ Năm với Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio, Đức Hồng Y Parolin giải thích rằng sáng kiến này đến từ Tòa Bạch Ốc. “Tôi nghĩ chúng ta sẽ nói về mọi thứ đã xảy ra trong những ngày gần đây. Chúng ta sẽ không thể tránh khỏi việc đề cập đến những chủ đề này,” ngài lưu ý.

Bình luận của Tổng thống Trump

Những bình luận của Ông Donald Trump về Đức Giáo Hoàng đã gây xôn xao dư luận trong vài tuần qua. Gần đây nhất, tổng thống Mỹ cáo buộc rằng Đức Giáo Hoàng Lêô ủng hộ Iran sở hữu vũ khí hạt nhân. Hôm thứ Ba, Đức Giáo Hoàng Lêô XVI đã trả lời mà không nêu đích danh Tổng thống Trump nhưng ngụ ý rằng những cáo buộc của nhà lãnh đạo này không dựa trên thực tại. Ngài tiếp tục thảo luận về lập trường phản đối vũ khí hạt nhân lâu nay của Giáo hội.

Đức Hồng Y Parolin đã bổ sung thêm lời giải thích của riêng mình. “Chắc chắn rằng tuyên bố này [của Ông Donald Trump] là không chính xác, theo nghĩa là Tòa Thánh, như vẫn luôn làm và tiếp tục làm, đặc biệt là hướng tới giải trừ vũ khí hạt nhân,” ngài giải thích với các nhà báo hôm thứ Tư. Người trợ lý thân cận của Đức Giáo Hoàng chỉ ra rằng Tòa Thánh thậm chí đã thúc đẩy một thỏa thuận đặt câu hỏi về “tính hợp pháp của việc sở hữu vũ khí hạt nhân”.

Thực thế, Đức Giáo Hoàng Phanxicô, sau khi trở về từ Hiroshima, thậm chí còn nói với báo chí rằng chỉ riêng việc sở hữu vũ khí hạt nhân đã là vô đạo đức.

“Đức Giáo Hoàng [Đức Lêô] đang làm những gì ngài phải làm,” vị Quốc vụ khanh nhấn mạnh. Ngài nói rằng ngài sẽ không đưa ra “phán xét [hay] đánh giá cá nhân” về Ông Donald Trump, đồng thời thấy “hơi kỳ lạ” khi tổng thống lại chọn cách “tấn công [Đức Giáo Hoàng Lêô XIV] như vậy hoặc khiển trách ngài về những việc ngài làm.”

Sẵn sàng đối thoại

Khi được hỏi về một cuộc gặp trực tiếp giữa hai người, vị Hồng Y người Ý cho rằng còn quá sớm để hình dung về một sự kiện như vậy, nhưng không hoàn toàn loại trừ khả năng đó. “Đức Thánh Cha luôn cởi mở với mọi thứ, ngài chưa bao giờ lùi bước trước bất cứ ai; vì vậy, nếu có lời đề nghị hoặc yêu cầu đối thoại trực tiếp với Tổng thống Trump, tôi nghĩ ngài sẽ không gặp khó khăn gì khi chấp nhận,” ngài giải thích.

Nhà lãnh đạo ngành ngoại giao của Tòa Thánh cũng lưu ý rằng không thể “phớt lờ Hoa Kỳ,” quốc gia “đóng vai trò trong hầu hết mọi tình huống mà chúng ta đang trải qua ngày nay.” Ngài chỉ ra rằng nhiều quốc gia coi cường quốc này như một điểm tham chiếu trên bàn cờ quốc tế. “Tôi không dựa vào ai cả, tôi chỉ dựa vào Chúa Giêsu Kitô,” ngài nói thêm một cách chắc chắn.

Trong số các chủ đề dự kiến sẽ được thảo luận với Marco Rubio, Đức Hồng Y Parolin đã đề cập đến “vấn đề xung đột.”

Trả lời câu hỏi về Iran, ngài một lần nữa đề xuất con đường đối thoại, ủng hộ “một cuộc đàm phán chân thành, thiện chí, để tất cả các bên có thể bày tỏ quan điểm của mình và tìm ra điểm chung.”

Trong khi đó, về sự hiệp nhất của Giáo hội

Quốc vụ khanh cũng được hỏi về tranh cãi nảy sinh trong những ngày gần đây xung quanh việc ban phước lành cho các cặp đôi đồng tính được thực hiện tại một số giáo phận ở Đức. Bộ Giáo lý Đức tin, gọi tắt là DDF đã công bố một bức thư hôm thứ Hai chỉ trích việc thiết lập một “nghi thức phụng vụ hoặc nghi thức phụ” xung quanh các buổi lễ này.

Hội đồng Giám mục Đức đã trả lời, khẳng định rằng bức thư này, có từ năm 2024, không phản ánh các lễ ban phước lành hiện đang diễn ra ở Đức. Nhưng Rôma đã bảo đảm vào thứ Tư, ngày 6 tháng 5, rằng cảnh báo của họ vẫn có hiệu lực đối với những lễ ban phước lành “không được sự chấp thuận” của bộ.

“Hiện tại, chúng tôi đang đối thoại, chúng ta sẽ xem điều gì xảy ra,” Hồng Y Parolin thận trọng nói với báo chí. Ngài bày tỏ sự tin tưởng “rằng sẽ có thể tìm ra giải pháp” dung hòa cả hai bên và hy vọng “các vấn đề có thể được giải quyết một cách hòa bình, như lẽ ra phải vậy trong Giáo hội.”

Ngài cũng cho rằng việc bàn về các biện pháp trừng phạt tiềm năng là quá sớm và hy vọng “sẽ không bao giờ phải đi đến bước đó,” đồng thời nhắc nhở các phóng viên rằng bất cứ quyết định cuối cùng nào cũng thuộc về Đức Giáo Hoàng.

3. Trong bài giảng tại Pompeii, Đức Giáo Hoàng ca ngợi kinh Kính Mừng và kinh Mân Côi.

Sáng Thứ Sáu, 08 Tháng Năm, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã cử hành Thánh lễ bên ngoài Đền thờ Đức Mẹ Mân Côi Pompeii, sau khi chào hỏi những người khuyết tật và tôn kính hài cốt của người sáng lập đền thờ, Thánh Bartolo Longo.

Đức Giáo Hoàng cũng hướng dẫn các tín hữu đọc kinh Supplica, kinh cầu nguyện với Đức Mẹ Mân Côi Pompeii, được đọc long trọng tại đền thờ mỗi năm vào ngày 8 tháng 5 và Chúa nhật đầu tiên của tháng 10.

“Đúng một năm trước, khi tôi được giao trọng trách kế vị Thánh Phêrô, đó chính là ngày cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria,” Đức Giáo Hoàng Lêô nhắc lại trong bài giảng của mình. “Vì vậy, tôi phải đến đây để đặt chức vụ của mình dưới sự bảo hộ của Đức Trinh Nữ Maria.”

“Việc tôi chọn tên Lêô vào thời điểm đó đặt tôi vào vị trí của Đức Lêô XIII, người có nhiều công lao, trong đó có việc đã phát triển một Giáo huấn rộng lớn về Kinh Mân Côi,” Đức Giáo Hoàng nói tiếp. “Thêm vào đó là việc phong thánh gần đây cho Thánh Bartolo Longo, tông đồ của Kinh Mân Côi.”

Sau đó, Đức Giáo Hoàng Lêô đã bày tỏ lòng kính trọng đối với kinh Kính Mừng và kinh Mân Côi:

Kinh Kính Mừng là lời mời gọi đến niềm vui: nó nói với Đức Mẹ, và qua Mẹ, với tất cả chúng ta, rằng trên đống đổ nát của nhân loại chúng ta, bị thử thách bởi tội lỗi và do đó luôn hướng đến sự dối trá, áp bức và chiến tranh, đã đến sự vuốt ve của Thiên Chúa, sự vuốt ve của lòng thương xót, mang hình hài con người nơi Chúa Giêsu. Vì vậy, Đức Mẹ trở thành Mẹ của lòng thương xót. Là môn đệ của Ngôi Lời và là công cụ của sự Nhập Thể của Người, Mẹ thực sự tỏ mình là “đầy ân sủng”. Mọi thứ trong Mẹ đều là ân sủng!...

Mọi sự đều diễn ra trong quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đấng bao phủ Đức Mẹ và làm cho lòng trinh khiết của Mẹ sinh sôi nảy nở. Khoảnh khắc lịch sử này mang một vẻ ngọt ngào và quyền năng thu hút trái tim và đưa nó đến đỉnh cao chiêm niệm, nơi mà lời cầu nguyện Kinh Mân Côi nảy nở. Một lời cầu nguyện, đã xuất hiện và phát triển dần dần trong thiên niên kỷ thứ hai, có nguồn gốc từ lịch sử cứu độ, và chính trong Lời Chào của Thiên Thần dành cho Đức Trinh Nữ mà nó được dùng làm khúc dạo đầu.

“Kính Mừng Maria!” Việc lặp lại lời kinh này trong Kinh Mân Côi giống như tiếng vọng lời chào của Thiên thần Gabriel, một tiếng vọng trải dài qua nhiều thế kỷ và hướng ánh nhìn của người tín hữu đến Chúa Giêsu, được nhìn thấy bằng con mắt và trái tim của Mẹ Maria. Chúa Giêsu được tôn thờ, chiêm nghiệm, đồng hóa trong mỗi mầu nhiệm của Người, để cùng với Thánh Phaolô, chúng ta có thể nói: “Không còn phải là tôi sống nữa, mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Gal 2:19). Được đặt trước bởi lời công bố Ngôi Lời, nằm giữa Kinh Lạy Cha và Kinh Vinh Danh, lời kinh Kính chào Đức Mẹ được lặp lại trong Kinh Mân Côi là một hành động của tình yêu thương.

“Từ Thánh đường này, với mặt tiền được Thánh Bartolo Longo hình dung như một tượng đài hòa bình, hôm nay chúng ta dâng lời cầu nguyện với đức tin,” Đức Giáo Hoàng Lêô nói thêm. “Chúa Giêsu đã dạy chúng ta rằng mọi sự đều có thể đạt được nhờ lời cầu nguyện có đức tin (xem Mt 21:22). Và Thánh Bartolo Longo, khi nghĩ về đức tin của Đức Mẹ Maria, đã định nghĩa Mẹ là ‘toàn năng nhờ ân sủng’. Nhờ sự cầu bầu của Mẹ, xin cho Thiên Chúa hòa bình ban cho lòng thương xót dạt dào, chạm đến trái tim mọi người, xoa dịu sự oán giận và thù hận huynh đệ tương tàn, và soi sáng những người có trách nhiệm đặc biệt trong việc cai quản.”

Pope, in homily at Pompeii, lauds the Hail Mary and the Rosary

https://www.catholicculture.org/news/headlines/index.cfm?storyid=69356